Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Số:02 /2024/QÐST-VDS
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Vĩnh Long, ngày 28 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi)

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – VĨNH LONG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Lan.

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long tham gia phiên họp: Ông Phan Thanh Việt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 365/2025/TLST-VDS, ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp số: 16/2025/QÐST-VDS, ngày 21 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1985; địa chỉ: A, khu phố P, phường P, tỉnh Vĩnh Long.

Ông Nguyễn Trọng C, sinh năm 1984; địa chỉ: A, khu phố P, phường P, tỉnh Vĩnh Long.

(Anh cần ủy quyền cho chị D tham gia tố tụng)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 1971; địa chỉ: B, khu phố P, phường P, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Phan Thị Trúc L1, sinh năm 1992; địa chỉ:

Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 10/4/2014; địa chỉ: A, khu phố P, phường P, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu việc dân sự ngày 13/10/2025 và bản tự khai ngày 13/10/2025 người yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu D và ông Nguyễn Trọng C trình bày:

Bà D với bà L1 là chị em bạn dì ruột với nhau (bà L1 gọi bà D là chị).

Bà L1 và ông Phạm Ngọc C1, sinh năm: 1992 (chết ngày 16/7/2014) là vợ chồng và có con chung là cháu Phạm Ngọc P1, sinh ngày: 10/4/2014. Ngày 19/5/2014, ông C1 và bà L1 đã làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu P1.

Sau khi sinh cháu P1 được 03 tháng thì ông C1 bị tai nạn xe qua đời.

Do vợ chồng ông C, bà D kết hôn đã lâu nhưng chưa có con, phần bà L1 chồng vừa mất, tuổi bà L1 cũng còn trẻ nên ông C, bà D có ngỏ ý để nhận cháu P1 làm con nuôi và được bà L1 đồng ý. Do đó, ngày 12/11/2018, ông C, bà D đã làm thủ tục nhận nuôi cháu P1 là con nuôi tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Ngày 15/6/2019, ông C, bà D đến Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để điều chỉnh tên cha mẹ ruột của cháu P1 là bà L1, ông C1 sang ông C, bà D, đồng thời đăng ký lại Giấy khai sinh của cháu P1 từ Phạm Ngọc P1 sang Nguyễn Ngọc P.

Sau khi nhận nuôi, cháu P đã về chung sống với ông C, bà D từ đó hết năm 2022. Đầu năm 2023 thì cháu có mong muốn chuyển về ở cùng với bà ngoại là bà Nguyễn Thị Yến L cho đến nay.

Hiện tại, bà L1 có mong muốn nhận cháu P về ở cùng, đồng thời lo sợ việc ký giấy tờ thủ tục cho cháu P sẽ khó khăn giữa cha mẹ nuôi và cha mẹ ruột. Do đó, bà L1 yêu cầu ông C, bà D chấm dứt việc nuôi con nuôi dễ tránh rắc rối, phức tạp thủ tục sau này.

Nên, nay ông C, bà D làm đơn để yêu cầu Tòa án xem xét tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi của chúng tôi đối với cháu Phạm Ngọc P1, sinh ngày: 10/4/2014 để bà Phan Thị Trúc L1 có thể làm thủ tục điều chỉnh tên cha mẹ ruột từ ông C và bà D sanh cho bà L1 và ông C1 (đã chết).

Tại bản tự khai và tại phiên hợp người có quyền lợi liên quan bà Phan Thị Trúc L1 trình bày: Bà là mẹ ruột của cháu P1. Năm 2019, bà cho ông C và bà D nhận cháu P1 làm con nuôi, nay cháu P1 có nguyện vọng về sống với bà, nên bà đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi của cháu P1 đối với ông C và bà D. Bà đồng ý nhận nuôi cháu P1.

Tại bản tự khai và tại phiên hợp người có quyền lợi liên quan bà Nguyễn Thị Yến L trình bày: Bà là bà ngoại của cháu P1. Năm 2019, ông C và bà D nhận cháu P1 làm con nuôi, cháu phú sống với ông C và bà D. Đến năm 2023, cháu P1 có nguyện vọng về sống với chung với bà và mẹ ruột là chị L1. Bà đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi của cháu P1 đối với ông C và bà D.

Cháu Nguyễn Nguyễn Ngọc P trình bày: Cháu P có bố mẹ đẻ là ông Phạm Ngọc C2 (đã chết), bà Phan Thị Trúc L1 và bố mẹ nuôi là bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Trọng C.

Hiện nay cháu có sức khoẻ tốt và đang học lớp 5 Trường tiểu học. Cháu ở với cả hai bên gia đình, đều được mẹ đẻ và bố mẹ nuôi yêu thương chăm sóc. Nay cháu có nguyện vọng muốn được về ở cùng bố mẹ đẻ nên cháu P đồng ý với ý kiến của mẹ đẻ bà L1 và bố mẹ nuôi bà D và ông C về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tại phiên họp: + Bà Nguyễn Thị Thu D xác nhận vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự như đơn yêu cầu và trong quá trình Tòa án giải quyết. Bà đề nghị Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Trọng C là đối với cháu Nguyễn Ngọc P. Đồng thời bà đề nghị Tòa án chuyển lại tên cho cháu thành tên thật của cháu là Phạm Ngọc P1 và cho cháu nhập hộ khẩu thường trú về nhà mẹ đẻ cháu là bà Phan Thị Trúc L1.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên họp phát biểu quan điểm về thẩm quyền giải quyết vụ việc của Tòa án nhân dân huyện là đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Thư ký tuân theo đúng quy định tố tụng dân sự, không có vi phạm. Sau khi đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Trọng C về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Nguyễn Ngọc P, cháu P được quyền lấy lại tên thật là Phạm Ngọc P1. Các bên đương sự phải có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc thay tên đổi họ và các thủ tục hành chính về Hộ tịch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long, Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của vợ chồng ông bà Nguyễn Thị Diễm T và ông Nguyễn Trọng C về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”, do con nuôi và bố mẹ nuôi đều cư trú tại phường P, tỉnh Vĩnh Long vì vậy Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 10 của Luật Nuôi con nuôi.

[2] Về nội dung: Ngày 12/11/2012 ông C và bà D nhận nuôi cháu Phạm Ngọc P1 là con đẻ của bà L1 và ông C1 làm con nuôi, các bên có có làm hồ sơ nhận nuôi con nuôi và được ủy ban nhân dân phường cấp giấy nhận nuôi con con nuôi số 01, quyển số số 01/2018, ngày 12/11/2018, nên quan hệ nuôi con nuôi là hợp pháp, các bên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Sau khi giao nhận con nuôi, ngày 07/12/2018, ông C và bà D đã đăng ký giấy khai sinh lại cho cháu Nguyễn Ngọc H tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long), đổi tên cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 10/4/2014 thành Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 10/4/2014. Ngày 15/6/2019, cháu Nguyễn Ngọc P có bố mẹ nuôi và Nguyễn Trọng C, sinh năm 1984 và mẹ nuôi là Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1985.

Nay cháu Nguyễn Ngọc P (tức Phạm Ngọc P1) có nguyện vọng về ở với mẹ đẻ, được bố mẹ nuôi là ông C và bà D và mẹ đẻ là bà L1 đều đồng ý. Nhận thấy yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông C và bà D là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định tại Điều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 25 của Luật nuôi con nuôi. Yêu cầu của ông C và bà D về việc chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu Nguyễn Ngọc P (tức Phạm Ngọc P1) là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận. Giao cháu Nguyễn Ngọc P (tức Phạm Ngọc P1) sinh ngày 10/4/2014 cho chị Phan Thị Trúc L1 là mẹ đẻ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bà D, ông C, bà L1 đều có nguyện vọng đề nghị cho cháu Nguyễn Ngọc P được được lấy lại tên trước khi được nhận nuôi là Phạm Ngọc P1 là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 27 Luật nuôi con nuôi. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của các đương sự, cháu Nguyễn Ngọc P được quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi làm con nuôi là Phạm Ngọc P1. Bà L1 phải có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục thay đổi họ tên cho cháu P1 theo quy định của pháp luật.

Bà D và Ông C có yêu cầu cho cháu được chuyển Hộ khẩu thường trú về với bà L1, theo quy định của Luật Hộ tịch thì các bên đương sự phải có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục hành chính về Hộ tịch tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

[9] Về lệ phí: Căn cứ Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà D và ông C phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc Hôn nhân gia đình là 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình: Điều 25: Điều 27 của Luật nuôi con nuôi; Luật Hộ tịch.
  • - Căn cứ khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm 1 khoản 2 Điều 39, Điều 149; Điều 367; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ án lệ số 61/2023/AL về chấm dứt nuôi con nuôi khi con nuôi chưa thành niên.
  • - Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Nguyễn Thị Thu D và ông Nguyễn Trọng C.
  2. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Nguyễn Thị Thu D và ông Nguyễn Trọng C với cháu Nguyễn Ngọc P (Tức Phạm Ngọc P1) sinh ngày 10/4/2014 (Theo Giấy chứng nhận con nuôi số 01, quyển số 01/2018, ngày 12/11/2018 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long).
  3. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  4. Giao cháu Nguyễn Ngọc P (TỨC Phạm Ngọc P1) sinh ngày 10/4/2014 cho bà Phan Thị Trúc L1 là mẹ đẻ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  5. Cháu Nguyễn Ngọc P được quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi làm con nuôi là Phạm Ngọc P1. Bà Phan Thị Trúc L1 phải có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục thay đổi họ tên cho cháu L theo đúng quy định của pháp luật.
  6. Các bên đương sự phải có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục hành chính về Hộ tịch tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
  7. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị Thu D và ông Nguyễn Trọng C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005972, ký hiệu BLTU/25E,ngày 15/10/2025. Ông C và bà D đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
  8. Ông C và bà D, bà L1, bà L, cháu P1 có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP
Nguyễn Thị Thanh Lan

Nơi nhận:

  • - Người yêu cầu;
  • - Người liên quan;
  • - Ủy ban nhân dân xã (Giấy chứng nhận con nuôi số 02, quyển số 01, ngày 20/12/2014);
  • - VKSND khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ việc.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 02/2024/QÐST-VDS ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – VĨNH LONG về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

  • Số quyết định: 02/2024/QÐST-VDS
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của c D, chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger