TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Châu Đốc, ngày 23 tháng 4 năm 2024
Số: 01/2024/QÐST-VHNGĐ |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:
- Thẩm phán – chủ tọa phiên họp: Bà Lê Ngọc Tiền.
- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Diễm My – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số: 01/2024/TLST-VHNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm số: 01/2024/QÐST-VHNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Phan Thị Thanh T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Số B, đường T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Phan Thanh H, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Cháu Phan Hải S, sinh năm 2009; Nơi cư trú: Số B, đường T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Có ông Phan Thanh H và bà Trần Thị Hồng H1 là cha mẹ ruột (vắng mặt).
- - Bà Trần Thị Hồng H1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: khóm X, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình, người yêu cầu bà Phan Thị Thanh T trình bày:
Bà T và ông Phan Thanh H là anh em ruột. Cháu S là con ruột của ông Phan Thanh H và bà Trần Thị Hồng H1. Do điều kiện kinh tế của ông H và bà H1 khó khăn nên bà T có nhận cháu Phan Hải S, sinh ngày 07/10/2009 làm con nuôi (theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 27/9/2003). Bà T đã nuôi dưỡng, chăm sóc cháu S từ thời điểm nhận nuôi đến nay. Hiện tại, cháu Phan Hải S có nguyện vọng sống cùng cha mẹ ruột là ông H và bà H1. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phan Hải S.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Phan Thanh H, bà Trần Thị Hồng H1 trình bày: Thống nhất các nội dung theo trình bày của bà Phan Thị Thanh T tại đơn yêu cầu việc chấm dứt việc nuôi con nuôi. Ông H, bà H1 đồng ý về việc bà T chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phan Hải S và ông H, bà H1 sẽ nhận nuôi cháu Phan Hải S cho đến tuổi trưởng thành.
Cháu Phan Hải S trình bày: Cháu S có nguyện vọng được trở về sống cùng với cha mẹ ruột là ông Phan Thanh H, bà Trần Thị Hồng H1 nên cháu S thống nhất với nội dung yêu cầu việc chấm dứt nuôi con nuôi của bà Phan Thị Thanh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc phát biểu ý kiến tại phiên họp:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc hôn nhân và gia đình kể từ khi thụ lý đến khi tiến hành phiên họp Thẩm phán, Thư ký và đương sự đã tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Việc nhận nuôi con nuôi giữa bà Phan Thị Thanh T và cháu Phan Hải S được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang công nhận tại Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 03/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2011 là đúng quy định của pháp luật. Nay cháu Phan Hải S có nguyện vọng, muốn về sống cùng với cha mẹ ruột và có sự đồng ý của cha mẹ ruột là ông Phan Thanh H và bà Trần Thị Hồng H1. Do đó đề nghị Tòa án căn cứ Điều 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 25, Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Phan Thị Thanh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Phan Thị Thanh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 10 Luật nuôi con nuôi; khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 điều 35 và điểm 1 khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Phan Thị Thanh T, ông Phan Thanh H, cháu Phan Hải S và bà Trần Thị Hồng H1 có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.
[2] Về nội dung:
Xét đơn của bà Phan Thị Thanh T yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phan Hải S. Thấy rằng, việc bà T nhận cháu S làm con nuôi và được Ủy ban nhân dân phường C, T bằng Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2011 về việc quyết định công nhận việc nhận con nuôi. Đây là quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi hợp pháp.
Nay cháu Phan Hải S có nguyện vọng không muốn làm con nuôi của bà T nữa nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu S. Đối với ông H và bà H1 cũng đồng ý nguyện vọng của cháu S và đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà T đối với cháu S.
Xét yêu cầu của bà T và nguyện vọng của cháu S (do ông H, bà H1 là đại diện hợp pháp) là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật nên chấp nhận. Do đó, Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà T đối với cháu S. Giao cháu S cho ông H và bà H1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[3] Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Thanh T phải chịu lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29; điểm 1 khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367;Điều 361, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3, 4, 39 của Bộ luật dân sự; Điều 10, khoản 1 Điều 25 và khoản 1, khoản 3 Điều 26; Điều 27 Luật nuôi con nuôi số 52/2010/QH12 ngày 17/6/2010; Điều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
[1]. Chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Phan Thị Thanh T đối với cháu Phan Hải S.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Phan Thị Thanh T đối với cháu Phan Hải S.
Giao cháu Phan Hải S cho ông Phan Thanh H và bà Trần Thị Hồng H1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[2]. Lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Phan Thị Thanh T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003315 ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Bà T đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[3]. Quyền kháng cáo:
Người yêu cầu được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp người yêu cầu vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Ngọc Tiền |
Quyết định số 01/2024/QÐST-VHNGĐ ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về chấm dứt việc nuôi con nuôi
- Số quyết định: 01/2024/QÐST-VHNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Chấm dứt việc nuôi con nuôi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn yêu cầu
