Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QĐST-HNGĐ

Bắc Sơn, ngày 23 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Ngọc.

Thư ký phiên họp: Bà Hà Lan Hương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 159/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và yêu cầu công nhận hôn nhân hợp pháp theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Triệu Tiến M, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Triệu Thị M1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
    2. Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn Đ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (Theo văn bản ủy quyền số 01/UQ-UB ngày 16 tháng 01 năm 2025). Vắng mặt (Có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu, quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Triệu Tiến M trình bày:

Anh Triệu Tiến M kết hôn với chị Triệu Thị M1 vào năm 2004, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 55, quyển số 02 ngày 04/11/2004.

Tại thời điểm đăng ký kết hôn cả anh và chị Triệu Thị M1 đều trực tiếp đến Ủy ban nhân dân xã T, huyện B để đăng ký kết hôn, anh cũng không nhớ lý do tại sao trong giấy đăng ký kết hôn ghi tên anh Triệu Tiến M, sinh ngày 10/7/1985 và vợ anh là chị Triệu Thị M1, sinh ngày 02/11/1987, nhưng thực tế anh sinh ngày 10/5/1985 và vợ anh chị Triệu Thị M1 sinh ngày 08/11/1987. Tuy nhiên, thời điểm đăng ký kết hôn anh đã đủ tuổi đăng ký kết hôn, còn chị Triệu Thị M1 chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thời điểm đó, nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật nên cả anh và chị Triệu Thị M1 vẫn đăng ký kết hôn và vẫn được Ủy ban nhân dân xã T cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho vợ chồng anh.

Kể từ khi kết hôn và trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Nay nhận thấy việc đăng kí kết hôn là trái quy định của pháp luật, do đó anh yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị Triệu Thị M1 (yêu cầu hủy giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 04/11/2004 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn), đồng thời anh Triệu Tiến M yêu cầu Tòa án công nhận hôn nhân hợp pháp giữa anh với chị Triệu Thị M1 kể từ thời điểm vợ chồng anh đủ tuổi kết hôn.

Về con chung: Anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 có 03 người con chung con thứ nhất tên là Triệu Văn T, sinh ngày 15/11/2005; con thứ hai tên là Triệu Thị X, sinh ngày 05/5/2007 và con thứ ba sinh ngày 06/9/2024 (chưa khai sinh), không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Triệu Tiến M là dân tộc thiểu số (dân tộc Dao), hiện nay đang sinh sống tại xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên họp đã được giải thích quy định của pháp luật về các trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, nhưng anh không yêu cầu được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí.

Quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp chị Triệu Thị M1 trình bày:

Chị Triệu Thị M1 kết hôn với anh Triệu Tiến M vào năm 2004, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 04/11/2004.

Tại thời điểm đăng ký kết hôn vợ chồng chị đến Ủy ban nhân dân xã T, huyện B để đăng ký kết hôn, lúc đó anh Triệu Tiến M đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên còn chị chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng do không hiểu biết pháp luật nên vợ chồng chị vẫn đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T cấp Giấy chứng nhận kết hôn.

Trong thời gian chung sống với nhau chị và anh Triệu Tiến M chung Sống hạnh phúc phúc và không có mâu thuẫn gì. Nay nhận thấy việc đăng ký kết hôn là trái quy định của pháp luật, do đó chị nhất trí yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh Triệu Tiến M (yêu cầu hủy giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 04/11/2004 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn), đồng thời chị yêu cầu Tòa án công nhận hôn nhân hợp pháp giữa chị với anh Triệu Tiến M, kể từ thời điểm vợ chồng chị đủ tuổi kết hôn theo quy định.

Về con chung: Chị Triệu Thị M1 và anh Triệu Tiến M có 03 người con chung con thứ nhất tên là Triệu Văn T, sinh ngày 15/11/2005; con thứ hai tên là Triệu Thị X, sinh ngày 05/5/2007 và con thứ ba sinh ngày 06/9/2024 (chưa khai sinh), không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết việc dân sự Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, người đại diện theo ủy quyền ông Dương Văn Đ trình bày:

Sau khi xem xét và kiểm tra lại các tài liệu còn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân xã T, huyện B có ý kiến như sau: Ngày 04/11/2004, Ủy ban nhân dân xã T, huyện B có đăng ký kết hôn cho anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1. Khi đăng ký kết hôn anh Triệu Tiến M có giấy giới thiệu (Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của anh Triệu Tiến M) của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H cấp ngày 29/10/2004 số liệu được ghi chú tại mục 9 của sổ đăng ký kết hôn. Còn chị Triệu Thị M1 tại thời điểm đăng ký kết hôn là tự khai, cán bộ đăng ký kết hôn không kiểm tra kỹ hồ sơ do đó Ủy ban nhân dân xã T đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh Triệu Tiến M sinh ngày 10/7/1985 và chị Triệu Thị M1 sinh ngày 02/11/1987 theo giấy khai sinh, căn cước công dân, giấy xác nhận thông tin nơi cư trú thì anh Triệu Tiến M sinh ngày 10/5/1985 và chị Triệu Thị M1 sinh ngày 08/11/1987. Do đó, Giấy chứng nhận kết hôn số 55, quyển số 02-2004 ngày 04/11/2004 của Ủy ban nhân dân xã T cấp không đúng, vì tại thời điểm đăng ký kết hôn với anh Triệu Tiến M chị Triệu Thị M1 chưa đủ tuổi kết hôn. Do thời gian cũng đã lâu và trải qua nhiều thế hệ cán bộ hiện nay Ủy ban nhân dân xã không tìm thấy hồ sơ đăng ký kết hôn của vợ chồng anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1. Hiện nay, anh Triệu Tiến M đề nghị Tòa án giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp thì Ủy ban nhân dân xã T đồng ý và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn trình bày phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật trong giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên họp đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục và đề nghị Tòa án áp dụng Điều 3, Điều 8, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 369, 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của anh Triệu Tiến M, tuyên kết hôn nhân trái pháp luật giữa anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1. Công nhận hôn nhân hợp pháp cho anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1, kể từ ngày 09/11/2004. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết. Về lệ phí: Buộc anh Triệu Tiến M phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân là anh Triệu Tiến M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Triệu Thị M1 cùng có địa chỉ tại thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và cơ quan đăng ký kết hôn là Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 29; điểm b, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và quá trình giải quyết vụ việc Ủy ban nhân dân xã T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân: Anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 04/11/2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Căn cứ vào những chứng cứ thu thập được như: Giấy khai sinh của anh Triệu Tiến M, chị Triệu Thị M1, Giấy xác nhận thông tin về cư trú, Giấy căn cước công dân của anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 thấy rằng anh Triệu Tiến M, sinh ngày 10/5/1985 và chị Triệu Thị M1, sinh ngày 08/11/1987. Đến ngày 04/11/2004 anh Triệu Tiến M đăng ký kết hôn với chị Triệu Thị M1 thì anh Triệu Tiến M đã 19 tuổi 05 tháng 24 ngày là đã đủ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; chị Triệu Thị M1 mới được 16 tuổi 11 tháng 26 ngày là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Tuy nhiên, do Ủy ban nhân dân xã T thời điểm đó đã không kiểm tra, xác minh kỹ nên đã đăng ký kết hôn cho anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 (tại Giấy Chứng nhận kết hôn số 55, quyển số 02, ngày 04/11/2004 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B) là vi phạm luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của anh Triệu Tiến M là có căn cứ chấp nhận theo Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 vẫn chung sống hòa thuận, hạnh phúc, quá trình giải quyết việc dân sự anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 trình bày việc đăng ký kết hôn trái pháp luật là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh chị, đồng thời anh chị đều có yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân là hợp pháp kể từ thời điểm chị Triệu Thị M1 đủ tuổi đăng ký kết hôn. Theo quy định của khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn: “ Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau: a) Nếu hai bên cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên có đủ điều kiện kết hôn”. Căn cứ vào các quy định trên, thì đến ngày 09/11/2004 chị Triệu Thị M1 mới đủ tuổi kết hôn. Xét thấy yêu cầu của anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 là có căn cứ. Vì vậy, cần công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 là hợp pháp, kể từ ngày chị Triệu Thị M1 đủ tuổi kết hôn là ngày 08/11/2005.

[4] Về con chung: Anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 có 03 người con chung con thứ nhất tên là Triệu Văn T, sinh ngày 15/11/2005; con thứ hai tên là Triệu Thị X, sinh ngày 05/5/2007 và con thứ ba sinh ngày 06/9/2024 (chưa khai sinh), không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 đều không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về lệ phí: Quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp anh Triệu Tiến M mặc dù là dân tộc thiểu số (dân tộc Dao), đang sinh sống thại xã T là xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt kho khăn của huyện B, tỉnh Lạng Sơn, nhưng anh Triệu Tiến M không yêu cầu được miễn tiền lệ phí và không có đơn xin miễn lệ phí. Do vậy, anh Triệu Tiến M phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước, số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà anh Triệu Tiến M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004133 ngày 26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Anh Triệu Tiến M đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

[7] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[8] Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Triệu Tiến M; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự chị Triệu Thị M1 và Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ khoản 6 Điều 3; điểm a khoản 1 Điều 8; Điều 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 146; khoản 1 Điều 149; Điều 367; Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp.

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của anh Triệu Tiến M: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55, quyển số 02 ngày 04/11/2004 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
  2. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Triệu Tiến M và chị Triệu Thị M1 là hợp pháp, kể từ ngày 08/11/2005.
  3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Triệu Tiến M phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) anh Triệu Tiến M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004133 ngày 26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Anh Triệu Tiến M đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
  4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Triệu Tiến M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự chị Triệu Thị M1 có mặt, có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vắng mặt, có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

    Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Lưu: Hồ sơ việc HNGĐ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Dương Thị Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp

  • Số quyết định: 01/2025/QĐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy kết hôn trái pháp luật
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger