Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QÐST-VDS

Bắc Ninh, ngày 07 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Trường Trung

Thư ký phiên họp: Ông Lê Quốc Huy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên

Ngày ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Bắc Ninh tiến hành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 53/2025/TLST-VHNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2025/QÐST-VDS ngày 29/10/2025 gồm những người tham gia sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị H, sinh năm 1977;

CCCD: 02717700xxxx; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

HKTT: thôn Q, xã C, tỉnh Bắc Ninh

- Ông Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1966;

CCCD: 02706601xxxx; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

HKTT: Khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị H1, sinh năm 1978;

CCCD: 02717800xxxx; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

HKTT: Tổ A, phường V, thành phố Hà Nội.

- Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Bắc Ninh; Người đại diện theo pháp

luật: ông Diêm Quốc D – Chủ tịch UBND phường; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt T – Cán bộ tư pháp, hộ tịch phường N.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu và lời khai, chị Trần Thị H trình bày:

Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Ngọc Á kết hôn với nhau vào ngày 28/12/2016. Trước khi kết hôn, tôi và anh Nguyễn Ngọc Á có tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện kết hôn.

Thời điểm kết hôn, do các giấy tờ của chị Trần Thị H bị mất từ những năm 2000 (bao gồm cả chứng minh nhân dân, giấy khai sinh). Thời điểm đó do không hiểu biết nên chị H có lấy tên của em gái là Trần Thị H1 với số CMND: [...] để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Đến năm 2010, chị H có làm đơn đề nghị cơ quan Công án cấp lại chứng minh thư nhân dân dưới tên Trần Thị H1, sinh ngày 09/7/1978. Chị H đã được cơ quan công an cấp Chứng minh thư nhân dân mang tên H1 vào ngày 11/5/2010. Khi kết hôn với anh Nguyễn Ngọc Á, chị H đã sử dụng chứng minh thư nhân dân được cấp lại trên để làm thủ tục đăng ký kết hôn với anh Ánh. Ngày 28/12/2016, chị H và anh Ánh được UBND xã N (nay là phường N) thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho đăng ký kết hôn với tên vợ: Trần Thị H1, sinh ngày 09/7/1978; Số CMND: [...]; nơi cư trú: Q, C, Q, Bắc Ninh; chồng: Nguyễn Văn Á1, sinh tháng 4/1966; CMND: [...].

Về chị Trần Thị H1: Ngày 18/01/2005, chị Trần Thị H1 đã đăng ký kết hôn với anh Vũ Ngọc L, sinh ngày 14/11/1980 tại UBND phường Đ, thành phố Hà Nội. Khi đăng ký kết hôn với anh L, chị H1 lấy tên Trần Thị H1, sinh ngày 09/7/1978; số CMND: [...]; Quê quán: Chi Lăng, Q, Bắc Ninh; Nơi thường trú: Q, C, Q, Bắc Ninh. Chị H1 với anh L hiện vẫn đang sinh sống với nhau.

Nay thấy việc kết hôn là trái pháp luật, chị H đề nghị Tòa án tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật được đăng ký giữa chị Trầ Thị H2 với anh Nguyễn Ngọc Á.

Tại lời khai, anh Nguyễn Ngọc Á (tức Nguyễn Văn Á1) trình bày:

Anh Nguyễn Ngọc Á kết hôn với chị Trần Thị H1 vào ngày 28/12/2016. Trước khi kết hôn, hai bên có tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi kết hôn, vợ tôi lấy tên là Trần Thị H1, sinh ngày 09/7/1978, số CMND: [...].

Đến năm 2023, khi làm lại căn cước công dân, anh Ánh mới được biết vợ anh tên thật là Trần Thị H, sinh ngày 21/8/1977. Việc đăng ký kết hôn lấy tên

Trần Thị H1 là do chị H thiếu hiểu biết nên đã sử dụng tên của em gái là chị Trần Thị H1 trong các thủ tục. Chị H cũng được Cơ quan công an cấp lại chứng minh thư nhân dân dưới tên Trần Thị H1 với số CMND [...].

Anh Ánh khẳng định tôi kết hôn và chung sống với chị Trần Thị Hồng S ngày 21/8/1977 cho đến nay. Do chị H lấy tên và chứng minh nhân dân của chị Trần Thị H1 để đăng ký kết hôn với tôi nên mới có trích lục kết hôn giữa tôi và chị Trần Thị H1.

Nay chị H đề nghị Tòa án tuyên hủy kết hôn trái pháp luật, anh Ánh đồng ý.

Tại lời khai, chị Trần Thị H1 trình bày:

Chị Trần Thị H1 là em gái của chị Trần Thị H. Về việc chị Trần Thị H lấy các thông tin về tên, tuổi, số chứng minh thư nhân dân của chị H1 để thực hiện công việc trong cuộc sống và kết hôn với anh Nguyễn Ngọc Á thì chị H1 hoàn toàn không biết. Đến khoảng năm 2025, khi đi khám bệnh chị H1 mới phát hiện chị Trần Thị H có lấy tên tuổi, số chứng minh nhân dân của chị H1 để đóng bảo hiểm y tế. Sau đó, chị H1 có hỏi chị H và biết sự việc chị H sử dụng thông tin của chị H1 nói trên.

Về việc kết hôn với anh Nguyễn Văn Á1 (Nguyễn Ngọc Á) vào ngày 28/12/2016 tại UBND xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chị H1 khẳng định chị H1 chưa bao giờ kết hôn với anh Nguyễn Ngọc Á. Anh Ánh là anh rể chị H1 và là chồng của chị Trần Thị H. Về giấy đăng ký kết hôn giữa chị H1 (Trần Thị H1, sinh ngày 09/7/1978, số CMND: [...]) với anh Nguyễn Văn Á1 (Nguyễn Ngọc Á) thì đến gần đây chị H1 mới biết và nguyên nhân là do chị Trần Thị H lấy tên của chị H1 để đăng ký kết hôn với anh Ánh.

Chị Trần Thị H1 đã kết hôn với anh Vũ Ngọc L, sinh ngày 14/11/1980 từ ngày 18/01/2005. Chúng chị H1 đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội. Hiện anh, chị vẫn chung sống với nhau và chưa từng ly hôn.

Về yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H: Chị H1 nhất trí với đề nghị của chị H, đề nghị Tòa án tuyên việc kết hôn giữa Trần Thị H1 và anh Nguyễn Văn Á1 (Nguyễn Ngọc Á) là trái pháp luật và đề nghị hủy việc kết hôn trên. Chị H1 khẳng định chị H1 không hề kết hôn với anh Ánh. Người kết hôn với anh Ánh là chị Trần Thị H – chị gái chị H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh nhận định:

[1] Về mối quan hệ và thẩm quyền giải quyết: Việc dân sự xác định giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật. Nơi đăng ký kết hôn là UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc phường N, tỉnh Bắc Ninh) nên Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Bắc Ninh có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 29 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên họp, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị H1 và UBND phường N xin vắng mặt nên Tòa án quyết định họp vắng mặt đối với những đương sự trên.

[2] Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Ngày 28/12/2016, chị Trần Thị H và anh Nguyễn Ngọc Á có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn, anh chị tự nguyện tìm hiểu và tự nguyên đi đăng ký. Tuy nhiên, tại thời điểm kết hôn chị Trần Thị H đã sử dụng chứng minh thư nhân dân và tên của chị Trần Thị H1 để kết hôn với anh Nguyễn Ngọc Á. UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh căn cứ vào các tài liệu người dân cung cấp đã đăng ký kết hôn với tên người vợ: Trần Thị H1 với số CMND: [...] và anh Nguyễn Văn Á1 (tức Nguyễn Ngọc Á). Trên thực tế chị Trần Thị H1 hoàn toàn không biết việc kết hôn này, chị H1 và anh Ánh cũng không hề có mối quan hệ hôn nhân thực tế.

Như vậy, việc đăng ký kết hôn dưới tên người vợ Trần Thị H1 và người chồng là Nguyễn Ngọc Á có sự lừa dối về nhân thân lý lịch dẫn đến sai lệch về mặt thủ tục. Việc kết hôn trên đã không tuân thủ Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy chị Trần Thị H, anh Nguyễn Ngọc Á yêu cầu hủy việc đăng ký kết hôn này là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về lệ phí tòa án: Xác nhận chị Trần Thị H tự nguyện chịu lệ phí theo quy định

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 8, 9, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 369, 370, 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm quản lý sử dụng ngân sách nhà nước.

  1. Chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Trần Thị H và anh Nguyễn Ngọc Á

    Hủy việc kết hôn với tên vợ: Trần Thị H1, sinh ngày 09/7/1978; Số CMND: [...]; nơi cư trú: Q, C, Q, Bắc Ninh; chồng: Nguyễn Văn Á1, sinh tháng 4/1966; CMND: [...]. Đăng ký tại UBND phường N, thành

phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh)

  1. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu số BLTU/25E/0002094 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự Bắc Ninh (mã tra cứu biên lai điện tử: kKkUKbGiODTM11b).
  2. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
    • - Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày mở phiên họp. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.
    • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
    • - Viện kiểm sát tỉnh Bắc Ninh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày ngày kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - Người yêu cầu;
  • - VKSND KV6 – Bắc Ninh;
  • - Lưu: Hồ sơ việc dân sự.

THẨM PHÁN

Phạm Trường Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 01/2025/QÐST-VDS ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

  • Số quyết định: 01/2025/QÐST-VDS
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quyết định giải quyết việc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger