Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIÊN KHÁNH

TỈNH KHÁNH HÒA

Số:01/2025/QÐST – HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Diên Khánh, ngày 27 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “yêu cầu xác định cha cho con”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH – TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân

Thư ký phiên họp: Bà Võ Thị Kiều – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diên Khánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên họp: Bà Thái Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2025/TLST-VDS ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2025/QĐST-VDS ngày 02 tháng 6 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • * Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Trương Hà B – sinh năm 1988 (có đơn đề nghị vắng mặt).

    Địa chỉ: Số 218/12 Nguyễn Duy Cung, phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

    Chỗ ở: Thôn Trường Lạc, xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • - Ông Trương Xuân D – sinh năm 1983 (có mặt)
    • - Ông Trương Xuân L – sinh năm 1981 (có mặt)
    • Cùng địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, Khánh Hòa.
    • - Ông Trương T – sinh năm 1954 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
    • - Bà Phạm Thị B1 – sinh năm 1950 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
    • Cùng địa chỉ: Thôn G, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
  • * Người làm chứng:

    • - Bà Trương Thị T1 – sinh năm 1946 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, Khánh Hòa.
    • - Bà Trương Thị T2 – sinh năm 1960 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện D, Khánh Hòa.
    • - Ông Nguyễn Ngọc D1 – sinh năm 1970 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Số nhà A Tỉnh lộ 2, thôn T, xã D, huyện D, Khánh Hòa.
    • - Ông Nguyễn Đình T3 – sinh năm 1965 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 2, thôn T, xã D, huyện D, Khánh Hòa.
    • - Ông Hàng Thanh T4 – sinh năm 1965 (vắng mặt)
    • Địa chỉ; Số D tổ B, thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, người yêu cầu - ông Trương Hà B trình bày: Ông Trương C (mất năm 1992) và bà Ngô Thị Bích N (mất năm 2020) đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/1978 ngày 20/4/1978 tại UBND xã D, huyện D. Hai người có với nhau hai người con chung: Trương Xuân L (sinh năm 1981) và Trương Xuân D (sinh năm 1983). Khoảng năm 1987, ông Trương C quen biết và nảy sinh tình cảm với bà L1. Trong quá trình này, bà L1 mang thai và sinh ra ông vào ngày 15/3/1988. Sau khi ông chào đời, bà L1 bỏ đi biệt tích. Ông C đã nhờ ông Trương T (người quen của ông) đứng tên đăng ký khai sinh cho ông dưới tên Trương Hà B, với thông tin cha là ông Trương T và mẹ là bà Phạm Thị B1 (vợ ông T), theo Giấy khai sinh số 356, quyển số 02/2003 ngày 26/02/2004 do UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp. Nghe ông T kể lại, lúc mới sinh, ông sống cùng gia đình ông C, sau đó, khoảng 1, 2 năm sau, ông T đưa ông về N sinh sống cùng gia đình ông T. Từ đó đến nay, ông vẫn mang tên Trương Hà B, sống và lớn lên tại xã N cùng ông Trương T và bà Phạm Thị B1. Trong suốt thời gian ấy, ông không được ai nói rõ về lai lịch thật sự của mình. Ông T chỉ kể mẹ ông tên là L1, nhưng không biết bà ấy là ai, ở đâu. Cũng từ bé đến nay, chưa từng có ai nhận ông là con hay tìm đến ông với tư cách là mẹ ruột. Nay, khi ông Trương C đã mất, ông có nguyện vọng được xác nhận mối quan hệ huyết thống với ông C, cũng như với hai người anh cùng cha là Trương Xuân L và Trương Xuân D, để có thể danh chính ngôn thuận bày tỏ tình cảm ruột thịt mà bấy lâu nay ông chưa từng có cơ hội thể hiện. Ông và hai anh L, D đã cùng tiến hành xét nghiệm ADN tại Trung tâm C2 (A Đ, phường Đ, Quận A, TP .). Kết quả xét nghiệm ADN ngày 20/01/2025 xác nhận: cả ba người đều có cùng huyết thống theo dòng cha (cùng mang NST Y). Vì vậy, ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xác định ông Trương C (sinh ngày 10/10/1954, thường trú trước khi mất tại thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; mất ngày 15/12/1992 theo Trích lục khai tử số 359/2024/TLKT-BS ngày 11/10/2024 của UBND xã D) chính là cha ruột của ông.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trương Xuân L trình bày: Ông là con ruột của ông Trương C (mất năm 1992) và bà Ngô Thị Bích N (mất năm 2020). Ông Trương C và bà N đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/1978 ngày 20/4/1978 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D. Cha mẹ ông có hai người con chung là Trương Xuân L (sinh năm 1981) và Trương Xuân D (sinh năm 1983). Về mối quan hệ giữa ông Trương C và mẹ của ông Trương Hà B, ông không được rõ. Khi còn nhỏ, ông và ông B từng có dịp gặp gỡ, nhưng sau đó mất liên lạc trong một thời gian dài. Mãi đến khoảng năm 2019, ông Trương Hà B mới chủ động tìm lại gia đình. Năm 1992, cha ông qua đời, đến năm 2020 thì mẹ ông cũng mất. Với mong muốn được xác nhận mối quan hệ huyết thống trong gia đình, ông cùng ông Trương Xuân D và ông Trương Hà B đã thực hiện xét nghiệm ADN tại Trung tâm C2 (địa chỉ: A Đ, phường Đ, Quận A, TP .). Theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 20/01/2025 của Trung tâm này, cả ba người – ông, ông D và ông B đều có cùng huyết thống theo dòng cha (cùng nhiễm sắc thể Y). Hiện nay, ông Trương Hà B đề nghị Tòa án xác định ông Trương C (sinh ngày 10/10/1954, trú tại thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; mất ngày 15/12/1992 theo Trích lục khai tử số 359/2024/TLKT-BS ngày 11/10/2024 của UBND xã D) là cha ruột của mình. Ông hoàn toàn đồng ý với yêu cầu này của ông B và không có ý kiến gì khác. Ngoài ông và ông Trương Xuân D là hai người con hợp pháp của ông Trương C, thì nay ông xác nhận ba ông còn có một người con là ông Trương Hà B. Ngoài ba người nói trên, ông Trương C không có người con nào khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Xuân D trình bày: thống nhất với ý kiến trình bày của ông Trương Xuân L. Ông đồng ý với yêu cầu của ông Trương Hà B

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trương T trình bày: Ông có quen biết với ông Trương C và bà L1 là cha mẹ ruột của ông Trương Hà B. Ông Trương C và bà L1 không đăng ký kết hôn. Sau khi sinh ông B, bà L1 bỏ đi, không để lại tin tức gì. Thời điểm đó, ông Trương C đã có gia đình nên ông Trương C có nhờ ông đi làm giấy khai sinh cho ông B để cháu được đi học như những đứa trẻ khác. Khi đăng ký khai sinh cho ông B, ông lấy họ “Trương” của mình, trùng với họ của ông Trương C để khai cho ông B, đồng thời khai ông là cha đẻ và vợ ông, bà Phạm Thị B1, là mẹ đẻ. Việc đăng ký khai sinh được thực hiện theo Giấy khai sinh số 356, quyển số 02/2004 ngày 26/02/2004 tại UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Đến năm 1989, ông đưa cả gia đình cùng ông B về sinh sống tại xã N, thị xã N cho đến nay. Trong suốt quá trình nuôi dưỡng ông B, ông không rõ bà L1 đi đâu, làm gì và bà cũng không liên lạc lại để nhận con. Ông Trương C, cũng không đến tìm hay thăm ông B. Vì vậy, vợ chồng ông là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và dạy dỗ ông B đến khi trưởng thành. Ông có kể cho ông B biết về cha ruột là ông Trương C để cháu có thể tìm lại nguồn gốc và anh em ruột thịt của mình. Sau đó, ông B cùng ông Trương Xuân L và ông Trương Xuân D đã thực hiện xét nghiệm ADN tại Trung tâm C2, xác định ba người có cùng huyết thống dòng cha. Nay ông Trương Hà B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xác định ông Trương Chinh C1 ruột của ông B thì ông đồng ý với yêu cầu của ông B và không có ý kiến gì khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B1 trình bày: Bà kết hôn với ông Trương Tân V năm 1977. Sau khi ông Trương Hà B được sinh ra, mẹ ruột của cháu đã bỏ đi, không để lại tin tức, cũng không chăm sóc con. Vì quen biết với ông Trương C nên chồng bà là ông Trương T đã đón cháu B về nhà nuôi dưỡng. Năm 2004, vợ chồng bà đăng ký khai sinh cho cháu B với tên Trương Hà B, ghi ông Trương Tân L2 cha đẻ và bà là mẹ đẻ, theo Giấy khai sinh số 356, quyển số 02/2004 ngày 26/02/2004 do UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp. Từ khoảng năm 1989 đến nay, gia đình bà cùng ông B sinh sống tại xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Trong quá trình nuôi dưỡng ông B, vợ chồng bà không biết bà L1 đi đâu, làm gì và bà cũng không liên lạc lại để nhận con. Ông Trương C cũng có gia đình riêng và cũng không đến thăm nom cháu. Vợ chồng bà đã trực tiếp chăm lo, yêu thương và dạy dỗ ông B như con ruột. Bà và ông T cũng có nói cho ông B biết về cha ruột của mình là ông Trương C để cháu có thể tìm lại cội nguồn và người thân. Vừa qua, ông B cùng ông Trương Xuân L và ông Trương Xuân D đã thực hiện xét nghiệm ADN tại Trung tâm C2, xác định ba người có cùng huyết thống dòng cha. Nay ông Trương Hà B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xác định ông Trương C là cha ruột của ông B thì bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu của ông B và không có ý kiến gì khác.

* Người làm chứng bà Trương Thị T1 vắng mặt tại phiên họp. Tại biên bản lấy lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T1 trình bày: Bà là chị cùng cha khác mẹ với ông Trương Chinh . Nhà bà trước đây ở ngay phía sau nhà ông C nên bà biết rõ về gia đình ông. Ông Trương C kết hôn với bà Ngô Thị Bích N, có đăng ký kết hôn và sinh được hai người con là cháu Trương Xuân L (sinh năm 1981) và cháu Trương Xuân D (sinh năm 1983). Ngoài ra, bà còn biết ông C có một người con khác là cháu Trương Hà B (tên thường gọi trong gia đình là “Ốc Tiêu”). Bà không rõ mẹ ruột của cháu B là ai, nhưng khi cháu mới sinh, ông C có mang cháu về nuôi tại nhà một thời gian ngắn. Sau đó, ông C gửi cháu cho ông Trương Tân nuôi D2 và gia đình mất liên lạc với cháu. Bà biết rõ việc này. Trước khi mất, ông C vẫn còn nhắc đến cháu B. Khoảng vài năm gần đây, cháu Trương Hà B có tìm về gia đình và có đến gặp bà. Bà khẳng định cháu Trương Hà B chính là con ruột của ông Trương C, B là cháu của bà.

* Người làm chứng bà Trương Thị T2 vắng mặt tại phiên họp. Tại biên bản lấy lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T2 trình bày: Bà là em ruột của ông Trương Chinh . Theo bà được biết, ông C và bà Ngô Thị Bích N có đăng ký kết hôn và có hai người con chung là cháu Trương Xuân L (sinh năm 1981) và cháu Trương Xuân D (sinh năm 1983). Ngoài ra, bà còn biết ông C có một người con khác là cháu Trương Hà B. Bà không rõ mẹ ruột của cháu B là ai. Khi cháu mới sinh, ông C có đưa cháu về nuôi một thời gian ngắn, sau đó gửi cho ông Trương Tân N1 và mất liên lạc từ đó đến nay. Gần đây, ông Trương Hà B đã tìm về gia đình và có đến gặp lại bà con họ hàng. Bà xác nhận cháu Trương Hà B là con của ông Trương C, là cháu của bà.

* Người làm chứng ông Hàng Thanh T4, ông Nguyễn Ngọc D1, ông Nguyễn Đình T3 vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản lấy lời khai, ông T4, ông D1 và ông T3 đều trình bày: Các ông là hàng xóm, sống xung quanh khu vực gia đình ông Trương C sinh sống. Theo mấy ông được biết, ông C và bà Ngô Thị Bích N có đăng ký kết hôn và có hai người con chung là ông Trương Xuân L và ông Trương Xuân D. Ông C có chị là bà Trương Thị T1 và em gái là bà Trương Thị T2. Ngoài hai người con là ông L và ông D thì ông C còn có một người con khác là ông B (tên hay gọi lúc nhỏ là Ố tiêu), không rõ mẹ ruột của ông B là ai và cũng không thấy mẹ ông B sinh sống tại nhà ông C. Lúc nhỏ, có thấy ông B sống một thời gian ngắn ở nhà ông C, sau đó không còn thấy ông B ở đó. Thời gian gần đây, mấy ông có thấy có một người nhận là ông Trương Hà B đã tìm về gia đình ông C và có đến gặp lại bà con xóm làng.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trương Hà B về việc xác định ông Trương C (sinh ngày 10/10/1954, thường trú trước khi mất tại thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; mất ngày 15/12/1992 theo Trích lục khai tử số 359/2024/TLKT-BS ngày 11/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã D) là cha ruột của ông Trương Hà B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương T, bà Phạm Thị B1; người làm chứng bà Trương Thị T1, bà Trương Thị T2 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; người làm chứng ông Hàng Thanh T4, ông Nguyễn Ngọc D1, ông Nguyễn Đình T3 vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ vào Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành mở phiên họp theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trương Hà B yêu cầu Toà án xác định ông Trương C (sinh ngày 10/10/1954, thường trú trước khi mất tại thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; mất ngày 15/12/1992 theo Trích lục khai tử số 359/2024/TLKT-BS ngày 11/10/2024 của UBND xã D) là cha ruột của ông B. Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, yêu cầu của ông B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà.

[3] Xét nội dung yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Theo nội dung trình bày của các đương sự: ông Trương C (mất năm 1992) và bà Ngô Thị Bích N (mất năm 2020) đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/1978 ngày 20/4/1978 tại UBND xã D, huyện D và có hai con chung là Trương Xuân L (sinh năm 1981) và Trương Xuân D (sinh năm 1983). Khoảng năm 1987, ông C có quan hệ tình cảm với bà L1, sau đó sinh được một bé trai đặt tên Trương Hà B và ông C có nhờ một người quen tên Trương Tân nuôi D2. Ngày 26/02/2004, ông Trương T thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho ông Trương Hà B – sinh ngày 15/3/1988, với tên cha là Trương T và mẹ là Phạm Thị B1. Ông T và bà B1 đã chăm sóc, dạy dỗ và nuôi dưỡng ông B trưởng thành.

Tại Phiếu Kết quả xét nghiệm ADN ngày 20/01/2025 và Công văn số 11/2025/CV-DT ngày 15/5/2025, Trung tâm C2 kết luận:

  • + Mẫu ADN ký hiệu Trương Xuân L và Trương Xuân D có cùng huyết thống dòng cha (cùng NST Y)
  • + Mẫu ADN ký hiệu Trương Xuân L và Trương Hà B có cùng huyết thống dòng cha (cùng NST Y)
  • + Mẫu ADN ký hiệu Trương Xuân D và Trương Hà B có cùng huyết thống dòng cha (cùng NST Y)

Căn cứ vào sự thừa nhận của ông Trương Hà B, ông Trương Xuân D, ông Trương Xuân L, lời khai của ông Trương T, bà Phạm Thị B1 phù hợp với lời khai của người làm chứng của bà Trương Thị T1, bà Trương Thị T2, ông Hàng Thanh T4, ông Nguyễn Đình T3, ông Nguyễn Ngọc D1 và kết quả phân tích ADN của Trung tâm C2. Việc giám định ADN được thực hiện tại Trung tâm C2 là đảm bảo, do đây là doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động, kết quả xét nghiệm của công ty có giá trị pháp lý, được sử dụng trong tố tụng. Đồng thời, sự thừa nhận của các bên là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Từ những đánh giá trên, đủ cơ sở để xác định ông Trương C là cha đẻ của ông Trương Hà B. Vì vậy căn cứ vào quy định tại các Điều 88; 90; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu xác định cha cho con của ông Trương Hà B được chấp nhận.

[5] Về lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trương Hà B phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 88; 90; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 và 390 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, nộp, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trương Hà B.

    Xác định ông Trương C (sinh năm 1954, chết ngày 15/12/1992 theo Trích lục khai tử số 359/2024/TLKT-BS ngày 11/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã D; nơi cư trú trước khi chết: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa) là cha đẻ của ông Trương Hà B.

  2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trương Hà B phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng lệ phí mà ông B đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001561 ngày 01/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Ông B đã nộp đủ lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa
  • - VKSND huyện Diên Khánh;
  • - UBND xã Diên Lạc;
  • - UBND xã Ninh An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Nguyễn Thái Bảo Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 01/2025/QÐST – HNGĐ ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH – TỈNH KHÁNH HÒA về yêu cầu xác định cha cho con

  • Số quyết định: 01/2025/QÐST – HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: yêu cầu xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH – TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger