|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 –THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 01/2025/QĐGQKN-TA |
Thái Nguyên, ngày 04 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 –THÁI NGUYÊN
Với thành phần người tiến hành tố tụng gồm có:
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Đàm Thị Minh H
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp: Bà Mạc Thị Quỳnh D - Kiểm sát viên.
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Bào Kim V – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên.
Người tham gia tố tụng:
Người khiếu nại: Ông Dương Văn N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Hôm nay, ngày 4 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên tiến hành mở phiên họp xét khiếu nại đối với Thông báo số 19/TB-TA ngày 23 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 –Thái Nguyên về việc Trả lại đơn khởi kiện, do khiếu nại của người khởi kiện là ông Dương Văn N.
NHẬN THẤY
Ngày 17/10/2025 ông Dương Văn N có đơn khởi kiện hành chính yêu cầu tuyên bố Biên bản tạm giữ ngày 11/01/2025, Quyết định số 0000754/QĐ-TG, Quyết định số 16/QĐ-HKL ngày 25/4/2025 và Quyết định số 12/QĐ-HKL ngày 11/4/2025 của Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là Hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T) là trái pháp luật, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại, buộc hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu giữ trái pháp luật và công khai xin lỗi, cải chính để khôi phục danh dự cho ông Dương Văn N.
Ngày 23/10/2025 Tòa án nhân dân khu vực 9 –Thái Nguyên ban hành Thông báo số 19/TB-TA về việc trả lại đơn khởi kiện, với lý do: Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 123; Điều 124 Luật tố tụng hành chính 2015.
Ngày 27/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 9 –Thái Nguyên nhận được đơn khiếu nại đề ngày 25/10/2025 của ông Dương Văn N khiếu nại Thông báo số 19/TB-TA ngày 23/10/2025 về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 9 –Thái Nguyên.
XÉT THẤY
Căn cứ vào Đơn khởi kiện, các tài liệu gửi kèm theo đơn, tài liệu Tòa án thu thập được; căn cứ ý kiến của ông Dương Văn N và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp thấy rằng:
1. Đối với Biên bản tạm giữ ngày 11/01/2025 và Quyết định số 0000754/QĐ-TG.
Ngày 10/01/2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại cơ sở chế biến lâm sản của bà Lý Thị T trú tại thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn T, xã C, tỉnh Thái Nguyên) tàng trữ gỗ tự nhiên. Trạm kiểm lâm C thuộc Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công an xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn tiến hành kiểm tra, phát hiện tại bãi tập kết của cơ sở C1 có tập kết gỗ tròn và thực vật rừng, qua đo đạc ban đầu xác định khối lượng gỗ là 17,071m³ gỗ tự nhiên thông thường (gỗ tròn) và 10,302 ster thực vật rừng ngoài gỗ (củi). Ông Dương Văn N ( là chồng của bà Lý Thị T) nhận là chủ toàn bộ số lâm sản trên với mục đích để bán.
Trạm kiểm lâm C thuộc Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn lập Biên bản tạm giữ ngày 11/01/2025; Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là Hạt kiểm lâm số 2, Chi cục Kiểm lâm T) ban hành Quyết định số 0000754/QĐ-TG về việc tạm giữ 17,071m³ gỗ và 10,302 ster củi của ông Dương Văn N.
Ngày 13/01/2025 Hạt trưởng Hạt kiểm lâm B, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 01/QĐ-HKL về việc tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu đối với 17,071m³ gỗ và 10,302 ster củi của ông Dương Văn N.
Ngày 14/01/2025, Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Thông báo số 29/TB-HKL về việc tiếp nhận tin báo tội phạm đối với hành vi vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng và lâm sản liên quan đến hành vi của ông Dương Văn N, trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn T, xã C, tỉnh Thái Nguyên).
Để có căn cứ giải quyết tin báo, căn cứ Điều 35, 39, 68, 205 và Điều 208/Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hạt kiểm lâm số 2, Chi cục kiểm lâm tỉnh T đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 19/QĐ-TCGĐ ngày 08/5/2025 về việc trưng cầu Viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp nhiệt đới giám định hiện trạng rừng, chức năng rừng bị khai thác trái pháp luật, loài cây, nhóm gỗ khai thác trên.
Ngày 14/5/2025 Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 30/QĐ-HKL về việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với vụ việc trên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 148/BLTTHS.
2. Đối với Quyết định số 16/QĐ-HKL ngày 25/4/2025 và Quyết định số 12/QĐ-HKL ngày 11/4/2025.
Ngày 16/3/2025 Trạm kiểm lâm C tiến hành kiểm tra rừng thì phát hiện các cây gỗ tự nhiên tại lô rừng 3,4,5, tiểu khu F thuộc thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (cũ) bị cắt hạ. Ngày 20/3/2025 Trạm kiểm lâm C phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn kiểm tra hiện trường khai thác rừng, qua đo đạc ban đầu xác định tổng khối lượng gỗ khai thác là 13,520m³ gồm các cây kháo, dẻ, chẹo...loại rừng sản xuất. Qua xác minh xác định ông Dương Văn N muốn trồng rừng và lấy gỗ nên đã khai thác các cây gỗ tự nhiên trên.
Ngày 02/4/2025, Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là Hạt kiểm lâm S thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh T) đã ban hành Thông báo số 04/TB-HKL về việc tiếp nhận tin báo về tội phạm về hành vi khai thác rừng trái pháp luật tại các lô 3,4,5, khoảnh 5, tiểu khu F (theo bảo đồ quy hoạch 03 loại rừng xã Đ năm 2018 ban hành kèm theo quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B) tại địa danh Q (Khu Ổ), thôn N, xã Đ, huyện B cũ của ông Dương Văn N, trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn T, xã C, tỉnh Thái Nguyên). Loại rừng: Rừng sản xuất; lâm sản bị thiệt hại: 13,520 m³ gỗ tự nhiên thông thường.
Ngày 11/4/2025 Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 12/QĐ-HKL về việc tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu là 01 chiếc máy kéo nông nghiệp có gắn thùng chở hàng (tắctơ) màu vàng nhãn hiệu Sunshine L1-20 đã qua sử dụng, vẫn còn hoạt động được, có lắp trục tời và có gỗ trên thùng xe (chưa đo đếm số lượng, khối lượng cụ thể) của ông Dương Văn N.
Ngày 25/4/2025 Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số16/QĐ-HKL về việc tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu đối với 1052 khúc gỗ tự nhiên thông thường, có khối lượng 25,026m³ của ông Dương Văn N.
Ngày 16/9/2025 Hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T ra Quyết định số 56/QĐ-HKL về việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với vụ việc trên theo điểm b khoản 1 Điều 148/BLTTHS.
Sau khi xem xét đơn khởi kiện hành chính yêu cầu tuyên bố Biên bản tạm giữ ngày 11/01/2025, Quyết định số 0000754/QĐ-TG, Quyết định số 16/QĐ-HKL ngày 25/4/2025 và Quyết định số 12/QĐ-HKL ngày 11/4/2025 của Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là Hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T) là trái pháp luật, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại, buộc hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu giữ trái pháp luật và công khai xin lỗi, cải chính để khôi phục danh dự cho ông Dương Văn N. Toà án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên. Xét thấy cả hai sự việc tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi khai thác rừng của ông Dương Văn N đều đang trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm do đơn vị Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn cũ (nay là Hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T) tiếp nhận, điều tra, xác minh tin báo theo quy định. Do
vậy, sự việc vẫn đang thuộc thẩm quyền giải quyết của Hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 123, Điều 124 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 xét thấy đơn khởi kiện của ông Dương Văn N thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện với lý do: Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên ra Thông báo số 19/TB-TA ngày 23/10/2025 về việc trả lại đơn khởi kiện.
Ngày 27/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên nhận được đơn khiếu nại đề ngày 25/10/2025 của ông Dương Văn N, khiếu nại thông báo số 19/TB-TA ngày 23/10/2025 về việc trả lại đơn của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên.
Căn cứ Điều 39, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng Hình sự, Cơ quan Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là Hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T) là đơn vị có thẩm quyền đã tiếp nhận và đang tiến hành điều tra, xác minh và giải quyết nguồn tin về tội phạm và chưa có kết quả giải quyết nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính 2015 thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp: “đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”. Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên trả lại đơn khởi kiện của ông N là hoàn toàn có căn cứ.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Ông Dương Văn N khởi kiện yêu cầu tuyên bố Biên bản tạm giữ ngày 11/01/2025 của Trạm kiểm lâm Chu Hương, Quyết định số 0000754/QĐ-TG, Quyết định số 16/QĐ-HKL ngày 25/4/2025 và Quyết định số 12/QĐ-HKL ngày 11/4/2025 của Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là Hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T) là trái pháp luật, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại, buộc hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu giữ trái pháp luật và công khai xin lỗi, cải chính để khôi phục danh dự cho ông Dương Văn N. Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của ông Dương Văn N tại phiên họp. Xét thấy, hai vụ việc liên quan đến hành vi khai thác rừng của ông Dương Văn N đang trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Căn cứ khoản 1,2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính thì biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của Trạm kiểm lâm C, thuộc Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh Bắc Kạn các quyết định tạm giữ tài sản, tài liệu, đồ vật do Hạt trưởng, Phó Hạt trưởng hạt kiểm lâm S, Chi cục kiểm lâm tỉnh T không phải là các quyết định hành chính bị kiện. Việc ông Dương Văn N khởi kiện biên bản, quyết định này theo tố tụng hành chính là không đúng và việc Toà án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên trả lại đơn khởi kiện là đúng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Đề nghị Tòa án căn cứ
khoản 1,2 Điều 3, Điều 30,31,123, điểm a khoản 4 Điều 124 Luật tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 giải quyết khiếu nại theo hướng giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện của ông Dương Văn N.
Từ các nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 123, điểm a khoản 4 Điều 124 Luật tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
1. Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện theo Thông báo số 19/TB-TA ngày 23 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thái Nguyên.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án tỉnh Thái Nguyên xem xét, giải quyết.
|
Nơi nhận: - Ông Dương Văn Nội; - VKSND khu vực 9 – Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. |
THẨM PHÁN Đàm Thị Minh Hường |
Quyết định số 01/2025/QĐGQKN-TA ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THÁI NGUYÊN về giải quyết khiếu nại
- Số quyết định: 01/2025/QĐGQKN-TA
- Quan hệ pháp luật: Giải quyết khiếu nại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 17/10/2025 ông Dương Văn Nội có đơn khởi kiện hành chính yêu cầu tuyên bố Biên bản tạm giữ ngày 11/01/2025, Quyết định số 0000754/QĐ-TG, Quyết định số 16/QĐ-HKL ngày 25/4/2025 và Quyết định số 12/QĐ-HKL ngày 11/4/2025 của Hạt kiểm lâm huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (nay là Hạt kiểm lâm số 2, Chi cục kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên) là trái pháp luật, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại, buộc hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu giữ trái pháp luật và công khai xin lỗi, cải chính để khôi phục danh dự cho ông Dương Văn Nội. Ngày 23/10/2025 Tòa án nhân dân khu vực 9 –Thái Nguyên ban hành Thông báo số 19/TB-TA về việc trả lại đơn khởi kiện, với lý do: Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 123; Điều 124 Luật tố tụng hành chính 2015. Ngày 27/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 9 –Thái Nguyên nhận được đơn khiếu nại đề ngày 25/10/2025 của ông Dương Văn Nội khiếu nại Thông báo số 19/TB-TA ngày 23/10/2025 về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 9 –Thái Nguyên.
