|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Quyết định giám đốc thẩm Số: 01/2025/KDTM-GĐT Ngày 11 - 3 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Thiện
Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Xuân
bà Trần Thị Thu Thủy
Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Tuấn – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa:
-
Nguyên đơn: Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H;
Địa chỉ: số I, Khu công nghiệp C, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Tổng Công ty B;
Địa chỉ: tầng B, tòa nhà P, số A P, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ chi nhánh: tầng 4 và tầng 5 tòa nhà văn phòng, số F C, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần V;
Đại diện theo pháp luật: bà Bùi Thị Lệ T;
Địa chỉ: G (A) Phố T, khu phố M - S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H trình bày như sau:
Công ty B (Chi nhánh của Tổng Công ty B) nhận bảo hiểm hàng hóa là 3.670 tấn đá (0-6cm) đóng bao của Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H (sau đây viết tắt là Công ty H) được chở trên tàu Thành Hưng 41, khởi hành ngày 15/01/2021 từ cảng P đến cảng Thành phố H theo Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số C02/VCND/41/18/20 ngày 11/8/2020 được ký kết giữa hai bên và Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam số 20/18/41/VCND/PC00637 ngày 18/12/2020.
Trong quá trình vận chuyển hàng hóa từ cảng P đến cảng Thành phố Hồ Chí Minh, khi tàu Thành Hưng 41 neo đậu tại vùng biển tiếp giáp giữa tỉnh Nghệ An và tỉnh Thanh Hóa thì bị chìm tàu vào ngày 22/8/2021, dẫn tới tổn thất 3.670 tấn đá (0-6cm) đóng bao của Công ty H.
Ngày 23/8/2021, Công ty H đã thông báo cho Tổng công ty B (sau đây viết tắt là Công ty B) biết sự việc và yêu cầu Công ty B bồi thường bảo hiểm. Tuy nhiên, Công ty B có văn bản trả lời không đồng ý bồi thường với các lý do không hợp lý.
Nay, Công ty H yêu cầu Công ty B phải bồi thường cho Công ty H 3.280.954.429 đồng; trong đó: giá trị lô hàng đá là 2.197.280.712 đồng, cước phí cảng là 204.419.000 đồng, tiền bao bì là 199.969.000 đồng, tiền vận chuyển là 352.488.300 đồng, tiền phạt chậm nộp thuế là 13.063.833 đồng, phí bảo hiểm là 1.574.026 đồng, phí vận chuyển vỏ bao Jumbo là 7.791.000 đồng, lãi chậm trả tạm tính từ ngày 20/9/2021 đến ngày 06/7/2022 (299 ngày) với lãi suất tạm tính 10,5%: 304.368.558 đồng.
Bị đơn Tổng Công ty B trình bày như sau:
Công ty B thừa nhận có ký kết hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho Công ty H như Công ty H trình bày; tổng số tiền bảo hiểm là 2.248.609.000 đồng (100% C&F).
Ngày 23/8/2021, Công ty B nhận được thông tin tàu Thành Hưng 41 vận chuyển lô hàng 3.670 tấn đá (0-6cm) đóng bao bị chìm tại khu vực vùng biển tỉnh Nghệ An. Sau khi xem xét hồ sơ sự việc, Công ty B đã gửi văn bản đến Công ty H thông báo đây là trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa và giấy chứng nhận bảo hiểm nêu trên. Bởi vì, tại điểm 1 khoản 4 Điều 3 Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa ngày 11/8/2020 được ký kết giữa hai bên quy định: “phương tiện vận chuyển hàng hóa theo điều khoản này phải đảm bảo đủ điều kiện vận hành, tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ phương tiện và đáp ứng các yêu cầu về an toàn chuyên chở theo quy định của pháp luật”; trong Giấy yêu cầu bảo hiểm hàng hóa, Công ty H cam kết “mọi khai báo ở trên là đầy đủ và đúng sự thật, cam kết phương tiện đủ điều kiện vận chuyển. Chúng tôi đồng ý tuân thủ tất cả các điều kiện và điều khoản của giấy chứng nhận bảo hiểm được phát hành căn cứ vào giấy yêu cầu bảo hiểm này”; tại khoản 5 Điều 8 Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004 quy định về các hành vi bị cấm như sau: “Đưa phương tiện không đủ điều kiện hoạt động theo quy định tại Điều 24 của Luật này tham gia giao thông đường thủy nội địa; sử dụng phương tiện không đúng công dụng hoặc không đúng vùng hoạt động theo giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của cơ quan đăng kiểm”; tại Điều 24 Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004 quy định về điều kiện hoạt động của phương tiện như sau: “Phải đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; phải có giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa, giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...”. Trong khi đó, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa số 00014/20V15 của tàu Thành Hưng 41 do Chi cục đăng kiểm số A cấp chỉ có hiệu lực đến ngày 09/4/2021 mà tàu Thành Hưng 41 bị chìm ngày 22/8/2021, tức giấy chứng nhận này đã hết hiệu lực hơn bốn tháng.
Tại công văn số 727/CVHHTH-TTATANHH ngày 19/8/2021, Cảng vụ Hàng hải T1 báo cáo tình trạng và xin ý kiến xử lý đối với tàu Thành Hưng 41 neo đậu dài ngày tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn trong khu vực gửi Cục H, có nội dung: kiểm tra thực tế hiện tại của tàu, kết quả “Buồng máy bị nước biển ngập vào ... đang chuẩn bị tiến hành bơm nước trong buồng máy ra”. Đồng thời, Cảng vụ Hàng hải T1 đôn đốc chủ tàu và chủ hàng bốc dỡ hàng khỏi tàu, phía chủ hàng - Công ty H nhận lại hàng và thuê tàu khác. Tuy nhiên, Công ty H không thực hiện theo các khuyến cáo này dẫn đến tàu bị chìm. Như vậy, phương tiện vận chuyển tàu Thành Hưng 41 của Công ty H không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo an toàn giao thông, vi phạm nghiêm trọng quy định về an toàn hàng hải. Theo khoản 8 Điều 5 Quy tắc bảo hiểm hàng hóa quy định điều khoản loại trừ bảo hiểm như sau: “Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo an toàn giao thông”. Do đó, đây là trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm và Công ty B từ chối bồi thường cho Công ty H là đúng pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần V trình bày:
Ngày 10/12/2020, Công ty cổ phần V (sau đây gọi tắt là Công ty V) và Công ty TNHH H1 (sau đây gọi tắt là Công ty H1) ký Hợp đồng vận chuyển số 16/HĐVC để vận chuyển 3.670 tấn đá (0-6cm) đóng bao. Ngày 11/12/2020, Công ty N với Công ty H Phụ lục hợp đồng số 27/PLHĐ theo Hợp đồng vận chuyển nguyên tắc số 01/2020-HĐVC để vận chuyển lô hàng 3.670 tấn đá (0-6cm) đóng bao trên tàu Thành Hưng 41 thuộc sở hữu của Công ty H1.
Hợp đồng vận chuyển nguyên tắc số 01/2020/HĐVC quy định “hàng hóa phải được mua bảo hiểm”. Do đó, Công ty V đã cung cấp đầy đủ các giấy tờ còn hiệu lực cho Công ty H để mua bảo hiểm cho lô hàng tại thời điểm này. Công ty B đã kiểm tra các giấy tờ được cung cấp là hợp lệ nên mới đồng ý cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm số 20/18/41/VCND/PC00637 ngày 18/12/2020.
Ngày 22/8/2021, tàu Thành Hưng 41 đang neo đậu tại vùng biển tiếp giáp giữa Nghệ An và Thanh Hóa thì bị chìm tàu, dẫn đến tổn thất hoàn toàn 3.670 tấn đá (0-6cm) đóng bao. Sau khi nhận được tin từ Cảng vụ, Công ty V đã thông báo cho Công ty H. Do lô hàng có mua bảo hiểm nên Công ty V đã khuyến nghị Công ty H thông báo cho Công ty B để giải quyết sự cố tổn thất hàng hóa nêu trên.
Như vậy, Công ty V đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình đối với Công ty H. Công ty H đã mua bảo hiểm nên Công ty B là đơn vị chịu trách nhiệm giải quyết tổn thất cho Công ty H.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 200/2023/KDTM-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H về việc yêu cầu Tổng công ty B phải bồi thường số tiền 2.248.609.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 470.914.170 đồng.
- Tổng công ty B có trách nhiệm bồi thường cho Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H số tiền là 2.719.523.170 đồng, bao gồm tiền bảo hiểm hàng hóa 2.248.609.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 470.914.170 đồng, theo Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số C02/VCND/41/18/20 ngày 11/8/2020 giữa Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H và Tổng công ty B và Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam số 20/18/41/VCND/PC000637 ngày 18/12/2020 của Tổng công ty B.
- Thời hạn trả tiền: Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H về việc yêu cầu Tổng công ty B phải bồi thường cho Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H số tiền bao gồm: tiền bao bì: 199.969.000 đồng, tiền vận chuyển: 352.488.300 đồng, tiền phạt chậm nộp thuế: 13.063.833 đồng, phí bảo hiểm: 1.574.026 đồng, phí vận chuyển vỏ bao Jumbo: 7.791.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02 tháng 10 năm 2023, Tổng công ty B có đơn kháng cáo đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 8304/QĐKNPT-VKS-KDTM đối với bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 127/2024/KDTM-PT ngày 17/5/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận một phần kháng cáo của Tổng công ty B, một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm về phần nhận định, phần quyết định của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm giữ nguyên như sau:
- Chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H về việc yêu cầu Tổng công ty B phải bồi thường số tiền 2.248.609.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 470.914.170 đồng.
- Tổng công ty B có trách nhiệm bồi thường cho Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H số tiền là 2.719.523.170 đồng, bao gồm tiền bảo hiểm hàng hóa 2.248.609.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 470.914.170 đồng, theo Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số C02/VCND/41/18/20 ngày 11/8/2020 giữa Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H và Tổng công ty B và Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam số 20/18/41/VCND/PC000637 ngày 18/12/2020 của Tổng công ty B.
- Thời hạn trả tiền: Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H về việc yêu cầu Tổng công ty B phải bồi thường cho Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H số tiền bao gồm: tiền bao bì: 199.969.000 đồng, tiền vận chuyển: 352.488.300 đồng, tiền phạt chậm nộp thuế: 13.063.833 đồng, phí bảo hiểm: 1.574.026 đồng, phí vận chuyển vỏ bao Jumbo: 7.791.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, lãi suất do chậm thi hành án, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 25/7/2024, Tổng công ty B có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị số 266/QĐ-VKS-KDTM ngày 26 tháng 11 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 127/2024/KDTM-PT ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm nêu trên và Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 200/2023/KDTM-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Ngày 11/8/2020, Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H (Công ty H) ký Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số C02/VCNDD/41/18/20 với Tổng Công ty B (Công ty B). Đối tượng được bảo hiểm là lô hàng 3.670 tấn đá (0-6cm) đóng bao, giá trị hàng hóa được bảo hiểm là 2.248.609.000 đồng, phương tiện vận chuyển là tàu Thành Hưng 41, hành trình được bảo hiểm của lô hàng từ cảng PTSC N đến cảng Thành phố H.
[2] Để thực hiện hợp đồng bảo hiểm và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, Công ty B đã thẩm tra toàn bộ hồ sơ, giấy tờ do Công ty H cung cấp, trong đó phương tiện vận chuyển là tàu Thành Hưng 41 có: giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội, giấy chứng nhận bảo hiểm phương tiện thủy nội địa và tàu ven biển, giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa và các loại giấy tờ khác. Sau khi thẩm định, xác nhận đúng hàng hóa được bảo hiểm và phương tiện vận chuyển, Công ty B đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam số/No: 20/18/41/VCND/PC00637 (Giấy chứng nhận bảo hiểm). Quá trình giải quyết vụ án, Công ty B thừa nhận quy trình cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm nêu trên phù hợp với quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Tại Điều 5.3.3.1 của Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số C02/VCNDD/41/18/20 quy định: “Hiệu lực của các Giấy chứng nhận bảo hiểm có thời hạn bắt đầu trong tháng liền trước đó...Giấy chứng nhận bảo hiểm đã cấp cho các chuyến hàng đã phát sinh theo Thông báo thu phí nêu tại mục 5.2.1 trên đây”. Như vậy, Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam số/No: 20/18/41/VCND/PC00637 đã phát sinh hiệu lực.
[3] Hành trình đi từ cảng P đến cảng Thành phố H, tàu Thành Hưng 41 đang neo đậu tại vùng biển tiếp giáp giữa tỉnh Nghệ An và tỉnh Thanh Hóa thì bị chìm vào ngày 22/8/2021. Tại Giấy chứng nhận bảo hiểm quy định: “Quy tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 1220/QĐ-PVIBH ngày 28/11/2016 của Tổng Giám đốc bảo hiểm B; Các điều khoản bổ sung và loại trừ khác theo Hợp đồng Nguyên tắc C02/VCND/41/18/20 ngày 11/8/2020” và “...phương tiện vận chuyển phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo luật định. Loại trừ các tổn thất phát sinh trước thời điểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm”. Đối chiếu với quy định này, khi ký kết hợp đồng bảo hiểm và cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa, Công ty B đã kiểm tra tàu Thành Hưng 41 đủ điều kiện chuyên chở, tàu có đăng kiểm, có bảo hiểm trách nhiệm dân sự còn hiệu lực. Công ty B chấp nhận bảo hiểm khi tàu đáp ứng các điều kiện chuyên chở nên không thể áp dụng điều khoản loại trừ khi Công ty B đã cấp đơn, đã kiểm tra các điều kiện về tàu, xác định đủ điều kiện tham gia bảo hiểm đối với lô hàng.
Mặc dù, tại thời điểm tàu Thành Hưng 41 bị chìm vào ngày 22/8/2021, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa số 00014/20V15 của tàu Thành Hưng 41 hết hiệu lực từ ngày 10/4/2021, nhưng hành trình được bảo hiểm của lô hàng từ cảng PTSC Nghi Sơn đến cảng Thành phố H bắt đầu từ ngày 15/01/2021 và chưa kết thúc. Do đó, trách nhiệm bảo hiểm của Công ty B vẫn còn. Hơn nữa, Công ty B không có yêu cầu Công ty H cam kết chịu trách nhiệm về các điều kiện của chủ phương tiện (tàu Thành Hưng 41) sau khi Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa có hiệu lực, cũng không giải thích về điều kiện loại trừ bảo hiểm; Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số C02/VCNDD/41/18/20 không quy định bắt buộc trách nhiệm cũng như yêu cầu Công ty H hoặc chủ phương tiện vận chuyển phải đảm bảo các điều kiện phương tiện vận chuyển tiếp tục đăng kiểm khi còn thời gian bảo hiểm; Công ty B cũng không thông báo, đôn đốc chủ phương tiện hoặc Công ty H làm thủ tục đăng kiểm tàu. Vì vậy, Công ty B cho rằng phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo an toàn giao thông, thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm để từ chối bồi thường cho Công ty H là không đúng.
[4] Từ những phân tích nêu trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty B phải bồi thường cho Công ty H số tiền 2.248.609.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 470.914.170 đồng, là có căn cứ; do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng Công ty B không phải chịu trách nhiệm bồi thường bảo hiểm, là không phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên không có sơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 266/QĐ-VKS-KDTM ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 127/2024/KDTM-PT ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần Hóa Chất Thành phố H với bị đơn là Tổng Công ty B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
- Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thiện |
Quyết định số 01/2025/KDTM-GĐT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Số quyết định: 01/2025/KDTM-GĐT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; 1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 266/QĐ-VKS-KDTM ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 127/2024/KDTM-PT ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần H Thành phố Hồ Chí Minh với bị đơn là Tổng Công ty bảo hiểm P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. 3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.