TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH Số: 01/2024/QĐPT-VDS | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bình Định, ngày 22 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
PHÚC THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Thắm.
Các Thẩm Phán: Ông Thái Văn Hà
Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Duy Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, mở phiên họp phúc thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2024/TLPT-VDS ngày 30 tháng 01 năm 2024, về việc “Yêu cầu tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”
Do quyết định số 59/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn bị kháng cáo
Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự số: 56/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố Tân Thành 1, phường Tam Quan Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Đ, sinh năm 1986 ( có mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
2. Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của anh Nguyễn T1, sinh năm 1982 (chết).
3. Bà Lý Thị M, sinh năm 1955 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lý Thị M: Bà Lý Thị T2, sinh năm 1957 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
4. Chị Lý Nguyễn Thị Thọ C, sinh năm 2000 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ông Nguyễn D, sinh năm 1962; hiện đang có địa chỉ cư trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định là chồng của bà H. Ông D có tiền sử sinh đẻ, phát triển thể chất và tâm thần không hoàn toàn bình thường. Từ nhỏ, do bố mẹ mất sớm, ông D phải sống cùng ông bà nội. Năm 1981, bà H và ông D kết hôn. Ông D không đi học và không biết chữ, biết tiền bạc; khả năng suy luận, tính toán kém; từng làm phụ hồ, làm thuê để kiếm sống nhưng năng suất lao động không cao, hay phụ bà H làm các công việc trong nhà, tính tình hiền lành. Bà H và ông D có 02 người con chung là:
- Anh Nguyễn T1, sinh năm 1982 (chết), có vợ là chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1985, hiện đang cư trú tại: Khu phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Anh Nguyễn Đ, sinh năm 1986, hiện đang cư trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Năm 2004, gia đình có đưa ông Nguyễn D đến khám tại Trạm Y tế phường T với chuẩn đoán: “Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3)”, nhưng về nhà không điều trị gì.
Đến hiện tại, ông D đêm ngủ được, có thể tự ăn uống và vệ sinh cá nhân được, buổi sáng thường thức dậy sớm phụ gia đình làm bánh để bán.
Gia đình đã đưa ông D đi giám định pháp y tâm thần tại Trung tâm P. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1850/KLGĐ ngày 03/11/2022 của Trung tâm P đã kết luận ông D:
- Về mặt y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ (F70);
- Về mặt năng lực hành vi dân sự: Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Nay, để làm thủ tục hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, bà H yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết tuyên bố ông Nguyễn D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Tại bản tự khai đề ngày 30/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đ, chị Nguyễn Thị Thanh T đồng trình bày:
Ông Nguyễn D là cha của ông Đ và chị T, cả hai thống nhất với sự trình bày của bà Nguyễn Thị H, không bổ sung ý kiến hoặc yêu cầu gì thêm.
- Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 06/9/2023 và tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị M và người đại diện theo ủy quyền của bà Lý Thị M là bà Lý Thị T2 đồng trình bày:
Bà M và ông D đã chung sống với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn từ năm 1999 đến nay. Ông D và bà M có một người con chung là chị L Nguyễn Thị Thọ C, sinh năm 2000. Bà M không đồng ý việc cử bà H làm người giám hộ cho ông D vì bà H đã bỏ đi lâu nay, không còn chung sống với ông D nữa. Bà M thấy ông D vẫn làm ăn bình thường, có khả năng sinh hoạt hằng ngày, lo được cho bản thân và gia đình nên bà M không đồng ý với yêu cầu của bà H yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Tại bản tự khai đề ngày 08/9/2023 và tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị L Nguyễn Thị Thọ C trình bày:
Chị C là con ruột của ông Nguyễn D. Năm 1999, ông D và bà M về sống chung với nhau như vợ chồng, có 01 người con chung là chị C. Ông D tính tình hiền lành, hay phụ giúp mẹ con chị làm các công việc trong nhà, vẫn đi làm phụ hồ để kiếm sống được. Chị C có biết ông D và bà Nguyễn Thị H đã từng sống chung với nhau và có 02 người con chung là anh Nguyễn T1, sinh năm 1982 (chết) và anh Nguyễn Đ. Nay, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, chị C không đồng ý, vì ông D vẫn sống, sinh hoạt và làm việc bình thường. Việc cử bà H làm người giám hộ cho ông D chị C cũng không đồng ý, vì bà H đã bỏ ông D đi từ rất lâu rồi, không quan tâm, chăm sóc ông D từ năm 1999 đến nay.
Quyết định dân sự sơ thẩm số 59/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị H.
- Chỉ định chị L Nguyễn Thị Thọ C là người giám hộ cho Ông Nguyễn D.
- - Xác định chị C có nghĩa vụ: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D, đại diện cho ông D trong các giao dịch dân sự, quản lý tài sản của ông D (nếu có); bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D.
- - Xác định chị C có quyền: Sử dụng tài sản của ông D (nếu có) để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của ông D; được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ, đồng thời đại diện cho ông D trong việc xác lập thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D.
Tuyên bố ông Nguyễn D, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Ngoài ra, Quyết định sơ thẩm còn quyết định lệ phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 11 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn nhận được đơn kháng cáo đề ngày 31/8/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đ kháng cáo một phần Quyết định yêu cầu hủy Quyết định sơ thẩm với lý do: Tòa án sơ thẩm vi phạm tố tụng vì gửi bản án cho ông Đ chậm; chỉ định chị L Nguyễn Thị Thọ C là người giám hộ cho ông Nguyễn D là chưa đúng vì chị C không phải là con ruột của ông Nguyễn D.
Tại phiên họp phúc thẩm, người yêu cầu không rút đơn yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đ không rút đơn kháng cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn T1 là chị Nguyễn Thị Thanh T đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 374 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng phúc thẩm vẫn tiến hành phiên họp.
[2] Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đ, thấy rằng:
[2.1] Ngày 27 tháng 9 năm 2023, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định sơ thẩm số 59/2023/QĐST-DS về việc tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị H nhưng đến ngày 07 tháng 12 năm 2023 mới tống đạt Quyết định số 59/2023/QĐST-DS cho bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đ và chị Nguyễn Thị Thanh T là vi phạm khoản 2 Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Đối với nội dung kháng cáo không đồng ý chị L Nguyễn Thị Thọ C là người giám hộ cho ông Nguyễn D vì chị C không phải là con ruột của ông Nguyễn D, Hội đồng phúc thẩm thấy rằng: Tại Trích lục đăng ký nhận cha cho con số 01/TLCMC ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H, Trích lục bổ sung thông tin hộ tịch số 01/TLBSHT ngày 29 tháng 01 năm 2021 Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H và bản sao Giấy khai sinh của chị Lý Nguyễn Thị Thọ C (BL: 39, 40, 41) đều thể hiện chị Lý Thị Thọ C là con ruột của ông Nguyễn D nên việc anh Đ cho rằng chị C không phải con ruột của ông D là không có căn cứ.
[2.3] Mặc dù bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn D có đăng ký kết hôn vào năm 1981. Tuy nhiên bà H đã bỏ đi không chung sống với ông D từ năm 1999 cho đến nay, còn anh Nguyễn Đ đã có gia đình ở riêng. Trong khi đó, từ năm 1999 cho đến nay ông D sống chung như vợ chồng với bà Lý Thị M và sinh được người con là chị Lý Nguyễn Thị Thọ C, sinh năm 2000. Hiện nay, ông D đang chung sống với bà M và chị C nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ định bà L Nguyễn Thị Thọ C là người giám hộ cho ông Nguyễn D là có căn cứ, phù hợp theo quy định khoản 4 Điều 54 Bộ luật dân sự.
[2.4] Tuy Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm về thời gian giao bản án cho đương sự nhưng Hội đồng phúc thẩm xét thấy không cần thiết phải hủy quyết định giải quyết việc dân sự mà cần lưu ý để Tòa án cấp sơ thẩm khắc phục và rút kinh nghiệm. Từ những phân tích trên Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của ang Nguyễn Đ. Giữ nguyên Quyết định sơ thẩm.
[3] Về lệ phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, anh Nguyễn Đ phải chịu 300.000đồng nhưng được khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0006099 ngày 10/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
[4] Các quyết định khác của Quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự đề nghị không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Đ, giữ nguyên Quyết định sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 375 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 46, điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 48, Điều 49, khoản 4 Điều 54, Điều 57, Điều 58 và Điều 59 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Đ.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị H.
- Chỉ định chị L Nguyễn Thị Thọ C là người giám hộ cho Ông Nguyễn D.
- - Xác định chị C có nghĩa vụ: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D, đại diện cho ông D trong các giao dịch dân sự, quản lý tài sản của ông D (nếu có); bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D.
- - Xác định chị C có quyền: Sử dụng tài sản của ông D (nếu có) để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của ông D; được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ, đồng thời đại diện cho ông D trong việc xác lập thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D.
- Về lệ phí:
- Lệ phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) bà H đã nộp theo Biên lai thu số 0003011 ngày 29/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
- Lệ phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Đ phải chịu 300.000đồng nhưng được khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0006099 ngày 10/01/2024 tại chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Tuyên bố ông Nguyễn D, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Thị Thắm |
Quyết định số 01/2024/QĐPT-VDS ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Số quyết định: 01/2024/QĐPT-VDS
- Quan hệ pháp luật: Tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận nội dung kháng cáo của người liên quan
