Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP


Bản án số: 01/2022/HS-ST

Ngày 20-01-2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Phan Ngọc Thành
  • - Bà Nguyễn Thị Ánh Gương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 01/TB-TA ngày 05 tháng 11 năm 2022, đối với:

- Bị cáo Lê Văn N, sinh năm 1980; tên gọi khác: Không; tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp K, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1943 và bà Hồ Thị T, sinh năm 1946 (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; bắt tạm giam: Ngày 02/10/2021. Bị cáo hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phạm Thị N, sinh năm 1972, có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: ấp 3, xã An Hòa, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Trần Ngọc P, sinh năm 1986, có đơn xin vắng mặt.
  2. Võ Văn B, sinh năm 1990, có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978, có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: ấp L, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  4. Lê Văn H, sinh năm 1972, vắng mặt.
  5. Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1976, vắng mặt.
  6. Nguyễn Thị K, sinh năm 1947, vắng mặt.
  7. Nguyễn Thị T, sinh năm 1965, vắng mặt. Địa chỉ: ấp K, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ, ngày 09/6/2021, Lê Văn N đi bộ đến nhà bà Phạm Thị N cùng ngụ ấp K, xã A, phát hiện không có ai ở nhà, đã khóa cửa, N đi đến vách nhà dùng tay kéo vách tol, chui vào nhà quan sát thấy sọt quần áo lụt tìm tài sản, lấy một bóp da, bên trong có 2 biên nhận cầm vàng tại tiệm vàng Kim D nên đã trộm cái bóp, tẩu thoát ra ngoài. Trên đường đi, N mở bóp ra thấy 02 chiếc nhẫn loại vàng 18K, bỏ vào túi quần bên phải, 02 biên nhận bỏ vào túi quần bên trái, riêng cái bóp ném bỏ.

Khi về đến nhà, N điều khiển xe mô tô đến nhà bạn tên Võ Văn B, nhờ B đến tiệm vàng Kim D bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Ông Đ (chủ tiệm) kiểm tra 2 biên nhận cầm đồ gồm: 01 dây chuyền vàng 18K cầm 5.000.000đồng, 1 lắc vàng 18K cầm 9.000.000đồng của bà N. Sau khi trừ tiền gốc và lãi, còn lại đưa B 3.180.000đồng. B về đưa N 3.180.000đồng. N cho B 100.000đồng, cho P 80.000đồng. Sau đó N mua ma túy 200.000đ về sử dụng chung với B, P, số tiền còn lại N mua số đề thua hết tiền. Riêng 02 chiếc nhẫn loại vàng 18K, ngày 24/6/2021 N đem cầm được 1.800.000đồng và đánh bạc thua hết tiền. Đến ngày 05/7/2021, tại cơ quan điều tra Lê Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ, ngày 09/6/2021, bị cáo Lê Văn N đã lén lút vào nhà bà Phạm Thị N lấy trộm tài sản. Tổng cộng bị cáo N chiếm đoạt số tiền 6.776.000đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 02 tháng 10 năm 2021.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera.

3. Về án phí: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Đồng Tháp;

- VKSND huyện T;

- VKSND tỉnh Đồng Tháp;

- Bị cáo; Bị hại;

- Cơ quan CSĐT Công an huyện T;

- Cơ quan THAHS Công an huyện T;

- Nhà tạm giữ Công an huyện T;

- Chi cục THADS huyện T;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(ĐÃ KÝ)



Hứa Quang Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 01/2022/HS-ST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp về trộm cắp tài sản

  • Số quyết định: 01/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/01/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger