Quyết định 314-VH/VP năm 1962 do Bộ trưởng Bộ Văn hóa ban hành là một văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý, bảo tồn và xếp hạng các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tại Việt Nam. Văn bản này cụ thể hóa các quy định của Nghị định số 519-TTg ngày 29/10/1957 của Thủ tướng Chính phủ, thiết lập các tiêu chuẩn, thủ tục, hiệu lực pháp lý và cơ chế quản lý đối với các di sản văn hóa vật thể.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu toàn bộ nội dung cốt lõi của Quyết định 314-VH/VP năm 1962:
1. Tiêu chuẩn xếp hạng di tích và danh thắng (Mục I)
Quyết định quy định rõ các tiêu chuẩn để xếp hạng đối với cả bất động sản và động sản có giá trị văn hóa, lịch sử:
- Đối với bất động sản: Trong khi chưa đủ điều kiện phân loại cụ thể thành các hạng A, B, C, các bất động sản đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau đều được xếp chung vào một hạng để bảo vệ:
- Di tích lịch sử: Những địa điểm, công trình liên quan trực tiếp đến các sự kiện lớn trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ, từ thời tiền sử cho đến nay.
- Di tích danh nhân: Những nơi gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của các nhân vật lịch sử đã khuất có đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh dân tộc hoặc lịch sử văn hóa của Việt Nam và thế giới (như anh hùng dân tộc, nhà chính trị, nhà khoa học, văn hào, nghệ sĩ...).
- Di tích kiến trúc nghệ thuật: Các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc tiêu biểu, có giá trị nghệ thuật đặc sắc đóng góp vào kho tàng văn hóa của dân tộc và nhân loại.
- Thắng cảnh: Những khu vực tự nhiên có cảnh quan tươi đẹp, nổi tiếng trong và ngoài nước như sông, núi, hồ, biển.
- Di tích khác: Những di tích liên quan chặt chẽ đến đời sống sinh hoạt văn hóa truyền thống của địa phương, có giá trị giáo dục tư tưởng, phổ biến kiến thức khoa học, văn hóa cho nhân dân, hoặc các dấu vết cổ xưa cần được bảo tồn để làm phong phú đời sống văn hóa nông thôn và thành thị.
- Đối với động sản: Các cổ vật, hiện vật (động sản) đã được Ty hoặc Sở Văn hóa đăng ký theo quy định tại Điều 5 của Nghị định số 519-TTg, nếu qua thẩm định xác định có giá trị lịch sử hoặc nghệ thuật tiêu biểu thì đều được xem xét xếp hạng bảo vệ.
2. Quy trình và thủ tục xếp hạng (Mục II)
Quy trình lập hồ sơ và phê duyệt xếp hạng di tích, danh thắng được thực hiện chặt chẽ qua các bước:
- Lập hồ sơ và phê duyệt: Ty hoặc Sở Văn hóa địa phương có trách nhiệm tham khảo ý kiến chuyên môn của Vụ Bảo tồn Bảo tàng để xây dựng dự thảo phương án xếp hạng. Phương án này phải đi kèm hồ sơ xác định ranh giới, khu vực bảo vệ của di tích, danh thắng để trình Bộ Văn hóa xem xét phê duyệt và ra quyết định chính thức.
- Xác định ranh giới bảo vệ: Việc khảo sát, lập bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích do Ty, Sở Văn hóa phối hợp với chính quyền địa phương nơi có di tích thực hiện, dưới sự hướng dẫn nghiệp vụ của Vụ Bảo tồn Bảo tàng.
- Phân chia khu vực bảo vệ: Phạm vi bảo vệ của mỗi di tích, danh thắng được chia làm hai vùng rõ rệt:
- Khu bảo vệ 1: Vùng lõi di tích, được bảo vệ nghiêm ngặt. Về nguyên tắc, nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại, thay đổi hiện trạng làm hư hỏng hoặc giảm giá trị của di tích, danh thắng.
- Khu bảo vệ 2: Vùng đệm bao quanh di tích. Mọi hoạt động xây dựng, khai thác, đào bới tại khu vực này nếu có nguy cơ ảnh hưởng đến di tích đều phải được Ty, Sở Văn hóa đề xuất và phải có sự đồng ý, cấp phép bằng văn bản từ Bộ Văn hóa.
- Thông báo quản lý: Ngay khi lập dự kiến xếp hạng, cơ quan văn hóa địa phương phải thông báo ngay cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đang trực tiếp quản lý di tích/hiện vật đó để chủ động triển khai các biện pháp bảo quản tạm thời.
3. Hiệu lực pháp lý của việc xếp hạng (Mục III)
Để đảm bảo tính thực thi pháp luật đối với các di sản đã được xếp hạng, quyết định quy định:
- Niêm yết nội quy và ký cam kết: Tại mỗi di tích bất động sản được xếp hạng, cơ quan chức năng phải tiến hành niêm yết công khai nội quy bảo vệ (dựa trên các điều khoản nghiêm cấm của Nghị định số 519-TTg). Đồng thời, người sở hữu hoặc người trực tiếp quản lý di tích phải ký giấy cam đoan chịu trách nhiệm bảo quản di sản trước chính quyền địa phương và cơ quan văn hóa.
- Xử lý các công trình hiện hữu trong khu vực di tích: Đối với các cơ quan, xí nghiệp hoặc hộ dân đang sinh sống, hoạt động hoặc xây dựng công trình trong phạm vi quy hoạch di tích từ trước, các đối tượng này bắt buộc phải ký cam kết thực hiện đúng các quy định về bảo vệ di tích. Phương thức sử dụng đất và bảo quản di tích cụ thể sẽ do cơ quan văn hóa địa phương thỏa thuận trực tiếp với từng đối tượng liên quan.
4. Cơ chế quản lý và nguồn kinh phí bảo tồn (Mục IV)
Công tác quản lý nhà nước đối với di tích, danh thắng được phân cấp rõ ràng:
- Trách nhiệm quản lý chuyên môn: Ty và Sở Văn hóa địa phương trực tiếp quản lý toàn bộ các di tích, danh thắng đã xếp hạng trên địa bàn dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn về mặt nghiệp vụ của Vụ Bảo tồn Bảo tàng.
- Trách nhiệm của chính quyền địa phương: Ủy ban hành chính các cấp có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ cơ quan văn hóa và các tổ chức bảo vệ di tích tại địa phương; lồng ghép kế hoạch bảo vệ di tích vào chương trình phát triển chung của địa phương.
- Nguồn vốn thực hiện: Kinh phí dành cho việc tu sửa, bảo quản khẩn cấp và tôn tạo di tích chủ yếu do ngân sách địa phương chi trả hoặc huy động từ nguồn đóng góp tự nguyện của nhân dân. Trong các trường hợp đặc biệt đối với di tích đã xếp hạng, Bộ Văn hóa sẽ xem xét hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách trung ương.
5. Chế độ khen thưởng và xử lý vi phạm (Mục V)
Văn bản thiết lập cơ chế khuyến khích đi đôi với chế tài nghiêm khắc:
- Khen thưởng: Các cá nhân, tập thể, cơ quan có thành tích xuất sắc trong việc hỗ trợ cán bộ chuyên môn, chính quyền thực hiện công tác xếp hạng và bảo vệ di sản sẽ được biểu dương, khen thưởng kịp thời.
- Xử lý kỷ luật, hình sự: Mọi hành vi phá hoại, xâm hại di tích như: trộm cắp, phá hoại đồ thờ tự, hoành phi, câu đối; hủy hoại bia đá, tượng Phật, chuông khánh; tự ý chặt hạ cây cổ thụ hoặc tự ý tháo dỡ, mua bán đình chùa trái phép... đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị truy tố trước pháp luật theo Điều 29 của Nghị định số 519-TTg năm 1957.
6. Điều khoản thi hành (Mục VI)
Quyết định này có hiệu lực thay thế cho các văn bản trước đây:
- Bãi bỏ toàn bộ các điều khoản trong các thông tư, chỉ thị trước đây của Bộ Văn hóa có nội dung trái với Quyết định này.
- Chánh văn phòng Bộ Văn hóa, Vụ trưởng Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Chủ tịch Ủy ban hành chính các cấp, cùng Giám đốc các Sở, Ty Văn hóa chịu trách nhiệm tổ chức thi hành nghiêm túc quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ VĂN HOÁ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 314-VH/VP | Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 1962 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC XẾP HẠNG DI TÍCH, DANH THẮNG
BỘ TRƯỞNG BỘ VĂN HÓA
Để thi hành nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 519-TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957;
Xét báo cáo của Vụ Bảo tồn Bảo tàng về tình hình bảo vệ di tích danh thắng hiện nay;
Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết về quản lý di sản văn hóa dân tộc đồng thời tránh mọi trở ngại cho các công trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc;
QUYẾT ĐỊNH:
MỤC I. TIÊU CHUẨN XẾP HẠNG
Điều 1. Những bất động sản nói trong Nghị định số 519-TTg của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 29/10/1957 có những tiêu chuẩn sau đây, trong khi chưa đủ điều kiện phân loại A, B,C, đều được xếp vào một hạng:
1. Di tích lịch sử: Những di tích liên quan đến những sự kiện lớn về lịch sử đấu tranh của dân tộc qua các thời kỳ, từ tiền sử đến ngày nay.
2. Di tích danh nhân: Di tích của những người đã chết có sự nghiệp lớn lao góp phần vào lịch sử đấu tranh hay lịch sử văn hóa của dân tộc và thế giới: anh hùng dân tộc, nhà chính trị, nhà khoa học, văn hào, nghệ sĩ…
3. Di tích kiến trúc nghệ thuật: Những công trình kiến trúc điêu khắc có giá trị tiêu biểu đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc và thế giới.
4. Thắng cảnh: Những khu vực sông núi, hồ biển, những phong cảnh tươi đẹp nổi tiếng ở trong nước và nước ngoài.
5. Di tích khác: Những di tích liên quan mật thiết đến sinh hoạt văn hóa của địa phương có tác dụng giáo dục tư tưởng, phổ biến văn hóa, khoa học cho nhân dân địa phương.
Những dấu vết xưa có giá trị cần giữ gìn làm phong phú cho đời sống văn hóa ở nông thôn hay thành thị.
Điều 2. Những động sản nói trong điều 5 của Nghị định số 519-TTg và được Ty, Sở văn hóa đăng ký, nếu xét có giá trị lịch sử nghệ thuật tiêu biểu cũng đều được xếp hạng.
MỤC II. THỦ TỤC XẾP HẠNG
Điều 3. Đối với bất động sản Ty, Sở Văn hóa sau khi hỏi ý kiến của Vụ Bảo tồn Bảo tàng làm dự kiến xếp hạng kèm theo hồ sơ quy định khu vực di tích, danh thắng để Bộ văn hóa duyệt và ra quyết định.
Điều 4. Công tác quy định khu vực di tích danh thắng do Ty, Sở Văn hóa và chính quyền địa phương có di tích làm dự kiến theo sự hướng dẫn của Vụ Bảo tồn Bảo tàng.
Điều 5. Phạm vi khu vực di tích, danh thắng gồm hai giới hạn:
1. Khu bảo vệ 1 là nơi về nguyên tắc không ai có quyền vi phạm (thể lệ sử dụng) làm hư hỏng hay giảm giá trị của di tích, danh thắng.
2. Khu bảo vệ 2 là khu vực thuộc phạm vi di tích, danh thắng, nếu ai muốn xây dựng, khai thác đào bới, làm ảnh hưởng đến di tích, danh thắng phải được Ty, Sở Văn hóa đề nghị và Bộ văn hóa cho phép.
Điều 6. Ngay khi có dự kiến xếp hạng, Ty, Sở Văn hóa phải báo cho người đang quản lý văn vật (tư nhân hay cơ quan, đoàn thể) biết để có kế hoạch bảo quản tốt.
MỤC III. HIỆU LỰC XẾP HẠNG
Điều 7. Để bảo đảm sự thực hiện những điều khoản về hiệu lực xếp hạng đã ghi trong điều 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 23, 24, 25 của Nghị định số 519-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên mỗi bất động sản xếp hạng đều phải niêm yết nội quy nêu những điều khoản nói trên.
Đối với những bất động sản xếp hạng phải có giấy cam đoan bảo quản của người sở hữu hay quản lý những bất động sản ấy, trước chính quyền và cơ quan văn hóa địa phương.
Điều 8. Trên những khu vực bất động sản đã được quy định khu vực, nếu có những cơ quan hay xí nghiệp đang tiến hành xây dựng hay hoạt động hoặc có nhà của nhân dân ở, những cơ quan, xí nghiệp hay tư nhân đó đều phải cam đoan thực hiện những điều khoản về hiệu lực xếp hạng nói trong quyết định này. Thể thức sử dụng và bảo quản phải quy định cụ thể giữa cơ quan văn hóa địa phương với đương sự.
MỤC IV. QUẢN LÝ
Điều 9. Tất cả những di tích, danh thắng được xếp hạng sẽ do cơ quan văn hóa địa phương (Ty, Sở Văn hóa) quản lý dưới sự hướng dẫn của Vụ Bảo tồn Bảo tàng.
Điều 10. Trách nhiệm giữ gìn những di tích, danh thắng là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, Ủy ban hành chính các cấp có nhiệm vụ giúp đỡ các Ty, Sở Văn hóa và các tổ chức bảo vệ di tích, đặt kế hoạch để quản lý tốt các di tích, danh thắng xếp hạng và những văn vật nói chung hiện có ở các địa phương.
Điều 11. Mọi công tác tu sửa, bảo quản cấp thiết, gìn giữ, tôn di tích… đều do quỹ của địa phương đài thọ, hoặc do nhân dân tự nguyện đóng góp. Đối với di tích xếp hạng, trong trường hợp đặc biệt, Bộ văn hóa có thể giúp đỡ một phần kinh phí.
MỤC V. KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT
Điều 12. Những cá nhân, cơ quan hay đoàn thể đã tích cực giúp đỡ cán bộ, chính quyền, cơ quan văn hóa làm công tác xếp hạng di tích, danh thắng và quản lý văn vật tốt đều được khen thưởng thích đáng.
Điều 13. Mọi sự vi phạm những điều khoản trong quyết định này như bản đồ thờ, hoành phi, câu đối, hủy hoại bia tượng, chuông khánh, cây cổ thụ, rỡ bán đình chùa trái phép… đều có thể bị truy tố trước pháp luật theo điều 29 trong Nghị định số 519-TTg ngày 29/10/1957 của Thủ tướng Chính phủ.
MỤC VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 14. Tất cả những điều khoản trong các thông tư, chỉ thị, trước đây với quyết định này đều coi như bãi bỏ.
Điều 15. Ông Chánh văn phòng Bộ văn hóa, Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Ủy ban hành chính các cấp, các Sở, Ty Văn hóa có trách nhiệm thi hành quyết định này.
|
| BỘ TRƯỞNG BỘ VĂN HÓA |
Quyết định 314-VH/VP năm 1962 về việc xếp hạng di tích, danh thắng do Bộ trưởng Bộ Văn hóa ban hành
- Số hiệu: 314-VH/VP
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 28/04/1962
- Nơi ban hành: Bộ Văn hoá
- Người ký: Hoàng Minh Giám
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 21
- Ngày hiệu lực: 13/05/1962
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
