Tóm tắt Quyết định 291-TTg năm 1979 về việc tổ chức tiền lương của công nhân xếp dỡ
Quyết định 291-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 1979 nhằm mục đích cải tiến chế độ tiền lương, thúc đẩy năng suất lao động và giải tỏa nhanh chóng hàng hóa tại các đầu mối giao thông vận tải quan trọng. Văn bản tập trung điều chỉnh cách thức tính lương, xây dựng định mức lao động và bổ sung các chế độ đãi ngộ đặc thù cho lực lượng công nhân xếp dỡ trong thời kỳ kinh tế bao cấp.
Mục tiêu và phạm vi áp dụng của chính sách tiền lương mới
Quyết định xác định rõ các định hướng cải cách tiền lương áp dụng riêng cho đối tượng công nhân xếp dỡ với các nội dung trọng tâm sau:
- Đối tượng áp dụng: Toàn bộ công nhân xếp dỡ chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp làm việc tại các cảng biển, cảng sông, ga đường sắt, kho bãi thuộc khu vực nhà nước và các đơn vị liên doanh vận tải.
- Mục tiêu cốt lõi: Khắc phục triệt để tình trạng bình quân chủ nghĩa trong phân phối thu nhập, tạo động lực kinh tế mạnh mẽ để giải phóng tàu xe nhanh chóng, giảm thiểu tối đa tình trạng ứ đọng hàng hóa tại các cửa ngõ giao thương.
Nguyên tắc tổ chức tiền lương và hình thức trả lương
Quyết định 291-TTg đưa ra các nguyên tắc mang tính đột phá trong việc tính toán và chi trả lương cho công nhân xếp dỡ:
- Áp dụng triệt để hình thức lương sản phẩm: Chuyển đổi mạnh mẽ từ hình thức trả lương theo thời gian sang trả lương theo sản phẩm (lương khoán) cá nhân hoặc tập thể (tổ, đội xếp dỡ). Thu nhập của công nhân được tính trực tiếp dựa trên khối lượng hàng hóa thực tế đã xếp dỡ hoàn thành đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn.
- Xây dựng định mức lao động khoa học: Yêu cầu các bộ, ngành liên quan phối hợp xây dựng hệ thống định mức lao động sát với thực tế, có phân loại cụ thể theo tính chất hàng hóa (hàng nặng, hàng cồng kềnh, hàng độc hại) và phương thức xếp dỡ (thủ công, bán cơ giới, cơ giới).
- Đơn giá tiền lương linh hoạt: Đơn giá xếp dỡ được xác định rõ ràng và có thể điều chỉnh phù hợp với điều kiện lao động cụ thể của từng khu vực cảng, ga nhằm bảo đảm tái sản xuất sức lao động cho công nhân.
Các chế độ phụ cấp và bảo đảm điều kiện làm việc
Bên cạnh tiền lương cơ bản theo sản phẩm, quyết định cũng quy định chi tiết về các khoản phụ cấp nhằm bảo vệ quyền lợi và sức khỏe cho người lao động:
- Phụ cấp độc hại và nguy hiểm: Công nhân xếp dỡ các loại hàng hóa hóa chất, phân bón, than, quặng hoặc làm việc trong môi trường hầm tàu kín, độc hại được hưởng thêm các khoản phụ cấp đặc thù theo quy định của pháp luật lao động.
- Chế độ làm đêm và ngoài giờ: Quy định mức phụ cấp thỏa đáng cho ca đêm và các đợt huy động xếp dỡ khẩn cấp ngoài giờ hành chính để giải phóng phương tiện vận tải đúng tiến độ.
- Trang bị bảo hộ lao động: Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân và bảo đảm an toàn lao động tuyệt đối trong quá trình tác nghiệp.
Tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan liên quan
Để quyết định đi vào cuộc sống một cách đồng bộ và hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan quản lý nhà nước:
- Bộ Giao thông vận tải và các Bộ quản lý ngành: Chịu trách nhiệm ban hành các hướng dẫn kỹ thuật, quy trình xếp dỡ tiêu chuẩn và phối hợp với Bộ Lao động để phê duyệt đơn giá tiền lương sản phẩm cho từng loại hình bến cảng, nhà ga.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Giám sát chặt chẽ việc thực hiện chế độ tiền lương mới tại các doanh nghiệp địa phương, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực trong phân phối tiền lương.
- Các doanh nghiệp, cảng, ga: Phải chủ động cải tiến tổ chức lao động, hợp lý hóa quy trình công nghệ xếp dỡ để tạo điều kiện cho công nhân tăng năng suất lao động, từ đó nâng cao thu nhập thực tế của người lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ***** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT ******* |
| Số: 291-TTg | Hà Nội, ngày 20 tháng 08 năm 1979 |
QUYẾT ĐỊNH
Để đáp ứng nhu cầu cải tiến tổ chức lao động ở các cơ sở xếp dỡ cũng như yêu cầu xây dựng lực lượng công nhân xếp dỡ thành lực lượng công nhân kỹ thuật, nghiệp vụ, có đủ năng lực đảm nhiệm công tác xếp dỡ với hiệu quả cao nhất.
Theo đề nghị của Bộ lao động và Bộ giao thông vận tải, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức tiền lương của công nhân xếp dỡ như sau:
| Cấp bậc | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| Mức lương thời gian (tháng) | 40 đ | 46 đ | 53 đ | 62 đ | 72 đ | 84 đ | 98 đ |
Khung bậc lương của công nhân được xếp trong thang lương công nhân kỹ thuật xếp dỡ;
- Công nhân bổ trợ, từ bậc 1 đến bậc 4;
- Công nhân xếp dỡ, từ bậc 3 đến bậc 6;
- Cộng nhân sử dụng các loại xe máy vận chuyển, từ bậc 2 đến bậc 6;
- Công nhân sử dụng các loại cần cẩu, từ bậc 3 đến bậc 7;
Việc sắp xếp công nhân vào các bậc lương phải căn cứ vào tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật của từng chức danh do Bộ giao thông vận tải căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật và quy trình công nghệ xếp dỡ để quy định, sau khi có sự thỏa thuận của Bộ lao động.
Những công nhân đặc biệt giỏi được hưởng khoản phụ cấp từ 10% đến 30% lương cấp bậc theo chế độ hiện hành.
2. Hình thức trả lương chủ yếu của công nhân xếp dỡ là lương trả theo sản phẩm, tính theo tấn xếp dỡ, bảo đảm đúng quy trình xếp dỡ đã quy định, không để mất mát, hư hỏng hàng hoá thuộc khâu xếp dỡ đảm nhận. Mức lương tháng dùng làm cơ sở để tính đơn giá trả lương theo sản phẩm quy định như sau:
| Loại hàng | Mức lương chính để tính giá |
| 1. Xếp dỡ các loại quặng mỏ, các loại hàng nặng, khó xếp dỡ, các loại hàng có chất độc | 84 đồng/tháng (1). |
| 2. Xếp dỡ các loại hàng khác các loại trên | 76 đồng/ tháng |
| 3. Công việc phụ trong xếp dỡ như chèn lót, kê kích, thu dọn, đóng gói… | 53 đồng/tháng (1) Không tính thêm phụ cấp độc hại. |
Ngoài các mức lương cơ bản trên đây khi tính đơn giá trả lương, được tính thêm các khoản phụ cấp như phụ cấp khu vực, phụ cấp bốc xếp và tỷ lệ khuyến khích trả lương theo sản phẩm.
3. Việc trả lương trong những thời gian làm công việc khác cũng như trong những thời gian ngừng việc vì hoàn cảnh khách quan, đều áp dụng theo chế độ trả lương hiện hành.
4. Phụ cấp làm đếm được tính trả cho những ca làm đêm theo chế độ hiện hành.
5. Quyết định này được áp dụng trước ở cảnh Hải Phòng và sẽ cho áp dụng ở cảng Đà Nẵng và cảng Sải Gòn sau khi chấn chỉnh tổ chức lao động xếp dỡ ở các cảng này.
Bộ giao thông vận tải chịu trách nhiệm chuẩn bị chu đáo, tạo mọi điều kiện để tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả, đảm bảo tổ chức lao động và tổ chức tiền lương hợp lý nhằm nâng cao năng suất lao động ở các cảng. Sau một thời gian thực hiện, Bộ giao thông vận tải sẽ cùng Bộ Lao động tổng kết, đề nghị bổ sung chính sách và mở rộng phạm vi áp dụng ở các cơ sở xếp dỡ khác có cùng điều kiện.
Các đồng chí Bộ trưởng Bộ Lao động và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| | KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Quyết định 291-TTg năm 1979 về việc tổ chức tiền lương của công nhân xếp dỡ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 291-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 20/08/1979
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Lê Thanh Nghị
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 17
- Ngày hiệu lực: 04/09/1979
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
