Quyết định 266/2025/QĐ-CTN do Chủ tịch nước ban hành là văn bản pháp lý quan trọng quy định về việc đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn và tù chung thân nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/2025). Dưới đây là tóm tắt chi tiết và toàn diện các nội dung cốt lõi của Quyết định này.
Thông tin chung về đợt đặc xá năm 2025
- Mục đích: Thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/2025).
- Thời điểm tính thời gian chấp hành án: Thời gian đã chấp hành phạt tù để xét đặc xá được tính đến ngày 30/4/2025.
- Hiệu lực thi hành: Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
Đối tượng được đề nghị đặc xá (Điều 2)
Đối tượng được xem xét đặc xá bao gồm ba nhóm cụ thể:
- Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn.
- Người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.
- Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Điều kiện được đề nghị đặc xá (Điều 3)
Quyết định quy định chi tiết các điều kiện khắt khe đối với từng nhóm đối tượng:
1. Đối với người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn và người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn:
- Có nhiều tiến bộ, ý thức cải tạo tốt, được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Đã chấp hành ít nhất 1/3 thời gian đối với án phạt tù có thời hạn (không tính thời gian đã được giảm án trước đó).
- Đã chấp hành ít nhất 14 năm đối với án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.
- Đối với các tội danh nghiêm trọng: Người bị kết án về tội phá hoại chính sách kinh tế - xã hội; phá hoại chính sách đoàn kết; tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, sản xuất/mua bán/chiếm đoạt trái phép chất ma túy phải chấp hành ít nhất 1/2 thời gian (đối với tù có thời hạn) hoặc ít nhất 17 năm (đối với tù chung thân đã giảm xuống tù có thời hạn).
- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền và nộp đầy đủ án phí.
- Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tội phạm tham nhũng.
- Đối với tội phạm phi tham nhũng, nếu hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn không thể thi hành tiếp thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn hoặc không yêu cầu thi hành án (đối với tài sản không thuộc sở hữu nhà nước).
- Khi được đặc xá không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.
2. Đối với người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù:
- Đạt xếp loại khá hoặc tốt trong thời gian chấp hành án trước khi có quyết định tạm đình chỉ.
- Đã chấp hành đủ thời gian quy định tương tự như đối tượng đang chấp hành án.
- Đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ tài chính, dân sự và không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự.
- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ.
3. Các trường hợp được giảm thời gian chấp hành án để xét đặc xá:
Người chấp hành được ít nhất 1/4 thời gian (hoặc 12 năm đối với tù chung thân; hoặc 1/3 thời gian, 15 năm đối với các tội danh nghiêm trọng nêu trên) được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp:
- Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
- Người có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu cao quý (Anh hùng Lao động, Nhà giáo/Thầy thuốc/Nghệ sĩ/Nghệ nhân nhân dân, Huân chương, Huy chương Kháng chiến...); thân nhân liệt sĩ (cha, mẹ, vợ, chồng, con, người nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ); con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; thân nhân người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”.
- Người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đau ốm thường xuyên không tự phục vụ bản thân.
- Người dưới 18 tuổi khi phạm tội (trừ trường hợp quy định riêng).
- Người từ đủ 70 tuổi trở lên.
- Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình.
- Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ.
- Người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
4. Đối với người dưới 18 tuổi đang chấp hành án hoặc tạm đình chỉ:
Được đề nghị đặc xá khi đã chấp hành ít nhất 1/4 thời gian (hoặc ít nhất 1/3 thời gian đối với các tội danh nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3).
Các trường hợp không được đề nghị đặc xá (Điều 4)
Quyết định loại trừ quyền đề nghị đặc xá đối với 16 nhóm trường hợp cụ thể, ngay cả khi đáp ứng đủ điều kiện tại Điều 3:
- Bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia (phản bội Tổ quốc, lật đổ chính quyền, gián điệp, bạo loạn, khủng bố, phá hoại cơ sở vật chất, tuyên truyền chống Nhà nước, phá rối an ninh, chống phá cơ sở giam giữ...) và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh.
- Bản án hoặc quyết định của Tòa án đang bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác.
- Trước đó đã từng được đặc xá.
- Có từ 02 tiền án trở lên.
- Thời hạn chấp hành án còn lại quá dài: Trên 8 năm đối với đối tượng thông thường; trên 10 năm đối với đối tượng thuộc diện ưu tiên/giảm thời gian tại khoản 3, 4 Điều 3.
- Bị kết án phạt tù về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia (ngoài các tội tại khoản 1).
- Phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc có tính chất dã man, côn đồ như: Giết từ 02 người trở lên, giết người có tổ chức/côn đồ/man rợ; cố ý gây thương tích nhiều lần hoặc dùng axit/hóa chất nguy hiểm; hiếp dâm loạn luân, hiếp dâm người dưới 16 tuổi; mua bán người/trẻ em đối với nhiều người; cướp tài sản có vũ khí; cướp/giật/trộm cắp tài sản có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng trở lên; chống người thi hành công vụ có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng; phạm tội cướp/giật/trộm cắp từ 02 lần trở lên.
- Phạm tội cướp tài sản hoặc bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có thời hạn chấp hành án còn lại vượt quá mức quy định (trên 1 năm đối với án dưới 7 năm; trên 2 năm đối với án từ 7 đến 15 năm; trên 3 năm đối với án trên 15 năm hoặc chung thân).
- Phạm tội về ma túy có thời hạn chấp hành án còn lại vượt quá mức quy định (trên 6 tháng đối với án từ 3 năm trở xuống; trên 1 năm đối với án từ 3 đến dưới 7 năm; trên 2 năm đối với án từ 7 đến 15 năm; trên 3 năm đối với án trên 15 năm hoặc chung thân).
- Phạm các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người có thời hạn tù còn lại trên 2 năm (đối với án từ 10 đến 15 năm) hoặc trên 3 năm (đối với án trên 15 năm hoặc chung thân).
- Là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, dùng thủ đoạn xảo quyệt, ngoan cố chống đối trong vụ án có tổ chức; người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
- Có căn cứ khẳng định đã từng sử dụng trái phép chất ma túy.
- Bị kết án do phạm từ 3 tội trở lên hoặc từ 2 tội cố ý trở lên (kể cả tổng hợp hình phạt); hoặc đang chấp hành hình phạt tổng hợp do bị kết án từ 2 lần trở lên về cùng một tội do cố ý.
- Có 1 tiền án mà lại bị kết án phạt tù về tội do cố ý.
- Đã từng bị kết án phạt tù (kể cả đã xóa án tích), từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc trường giáo dưỡng mà nay lại bị kết án phạt tù về một trong các tội danh nguy hiểm (ma túy, giết người, cố ý gây thương tích, cướp/giật/cưỡng đoạt/trộm cắp tài sản, lừa đảo, sử dụng công nghệ cao chiếm đoạt tài sản, chống người thi hành công vụ, mua bán người, gây rối trật tự công cộng, tiêu thụ tài sản phạm pháp, cho vay lãi nặng, tổ chức/môi giới xuất nhập cảnh trái phép).
Đặc xá trong trường hợp đặc biệt và tổ chức thực hiện (Điều 5, 6, 7)
- Đặc xá trong trường hợp đặc biệt: Chính phủ chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan lập hồ sơ đề nghị đặc xá cho các trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 22, Điều 23 Luật Đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
- Công tác tuyên truyền và chỉ đạo: Chính phủ chỉ đạo tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ý nghĩa, mục đích của đợt đặc xá; chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định pháp luật.
- Trách nhiệm thi hành: Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 266/2025/QĐ-CTN | Hà Nội, ngày 03 tháng 3 năm 2025 |
VỀ ĐẶC XÁ NĂM 2025
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 88, Điều 91 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
Căn cứ Luật Đặc xá năm 2018;
Thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, khuyến khích họ phấn đấu học tập, rèn luyện tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội;
Xét đề nghị của Chính phủ tại Tờ trình số 04/TTr-CP, ngày 28/02/2025.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/2025).
Thời gian đã chấp hành phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 30/4/2025.
Điều 2. Đối tượng đặc xá bao gồm:
Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Điều 3. Điều kiện được đề nghị đặc xá
1. Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
b) Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần ba thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
Người bị kết án về tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật Hình sự đã chấp hành án phạt tù ít nhất một phần hai thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 17 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
c) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;
d) Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng;
đ) Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù về tội phạm không phải là tội phạm tham nhũng;
Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này;
e) Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự;
g) Không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 4 Quyết định này.
2. Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ;
b) Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
c) Các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là một phần tư thời gian và người bị kết án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là 12 năm hoặc trường hợp bị kết án về một trong các tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã chấp hành ít nhất một phần ba thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, 15 năm đối với án phạt tù chung thân, nếu có đủ các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1, các điểm a, c và d khoản 2 Điều này thì được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
b) Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng Lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương; người được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”;
c) Người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân;
d) Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;
đ) Người từ đủ 70 tuổi trở lên;
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình;
g) Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam;
h) Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật về dân sự.
4. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều này hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm g khoản 1, điểm a và điểm d khoản 2 Điều này được đề nghị đặc xá khi đã chấp hành ít nhất một phần tư thời gian hoặc đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù về một trong các tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Điều 4. Các trường hợp không được đề nghị đặc xá
Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 3 của Quyết định này không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự.
2. Bản án, phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác.
4. Trước đó đã được đặc xá.
5. Có từ 02 tiền án trở lên.
6. Thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên tám năm đối với người được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3; trên mười năm đối với người được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 Quyết định này.
7. Bị kết án phạt tù về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
8. Phạm tội giết 02 người trở lên hoặc giết người có tổ chức hoặc có tính chất côn đồ hoặc thực hiện tội phạm một cách man rợ; cố ý gây thương tích nhiều lần đối với một người hoặc một lần đối với nhiều người (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cố ý gây thương tích từ 02 lần trở lên hoặc đối với 02 người trở lên hoặc cố ý gây thương tích có tổ chức hoặc có tính chất côn đồ hoặc dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; hiếp dâm có tính chất loạn luân; hiếp dâm trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16 tuổi; mua bán phụ nữ thuộc trường hợp phạm tội mua bán nhiều người (theo Bộ luật Hình sự năm 1985) hoặc mua bán người thuộc trường hợp phạm tội đối với nhiều người (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc mua bán người thuộc trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc mua bán người dưới 16 tuổi hoặc đánh tráo người dưới 01 tuổi hoặc chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; cướp tài sản có sử dụng vũ khí; cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản có tổ chức hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chống người thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc có tổ chức hoặc phạm tội từ 02 lần trở lên hoặc xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần, trộm cắp tài sản nhiều lần (từ 02 lần trở lên).
9. Phạm tội cướp tài sản hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 01 năm đối với người bị kết án phạt tù dưới 07 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 07 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối với người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân.
10. Phạm tội về ma túy mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 06 tháng đối với người bị kết án phạt tù từ 03 năm trở xuống hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 01 năm đối với người bị kết án phạt tù trên 03 năm đến dưới 07 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 07 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối với người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân.
11. Phạm một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý mà thời hạn tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 10 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối với người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân.
12. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy trong vụ án phạm tội có tổ chức; người dùng thủ đoạn xảo quyệt, ngoan cố chống đối trong vụ án phạm tội có tổ chức; người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
13. Có căn cứ khẳng định đã từng sử dụng trái phép các chất ma tuý.
14. Bị kết án phạt tù do phạm từ ba tội trở lên hoặc phạm từ hai tội do cố ý trở lên, kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt; hoặc đang chấp hành hình phạt tổng hợp do bị kết án phạt tù 02 lần trở lên về cùng một tội do cố ý.
15. Có một tiền án mà lại bị kết án phạt tù về tội do cố ý.
16. Đã từng bị kết án phạt tù, kể cả trường hợp đã được xóa án tích hoặc đã từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, kể cả cơ sở giáo dục trước đây hoặc đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: Về ma tuý; giết người; cố ý gây thương tích; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ (theo Bộ luật Hình sự năm 1985) hoặc mua bán người; gây rối trật tự công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cho vay lãi nặng (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép.
Điều 5. Đặc xá trong trường hợp đặc biệt
Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt theo Điều 22, Điều 23 của Luật Đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Điều 6. Chính phủ chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, phổ biến về ý nghĩa, mục đích và nội dung của hoạt động đặc xá; chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan khác của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá, Quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều 7. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| CHỦ TỊCH |
- 1Công văn 257/TANDTC-V1 năm 2021 thực hiện đặc xá trong trường hợp đặc biệt cho người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 2Công văn 3443/VKSTC-V8 năm 2021 hướng dẫn kiểm sát việc thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
Quyết định 266/2025/QĐ-CTN về đặc xá năm 2025 do Chủ tịch nước ban hành
- Số hiệu: 266/2025/QĐ-CTN
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Lương Cường
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 03/03/2025
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
