Hệ thống pháp luật

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 22/2016/QĐ-UBND

Hải Dương, ngày 01 tháng 08 năm 2016

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;

Căn cứ Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 ngày 12 tháng 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Căn cứ Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 7 năm 2015 liên Bộ: Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Cơ s xã hội tiếp nhận, quản lý người trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Hải Dương trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội là Cơ sở xã hội thực hiện nhiệm vụ:

1. Tiếp nhận, quản lý người bị phát hiện sử dụng ma túy trái phép trong thời gian làm thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy theo đề nghị của cơ quan Công an.

2. Tiếp nhận, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý cho người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên mà chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và không có nơi cư trú ổn định trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã.

3. Tiếp nhận, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý cho người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện và có nguyện vọng vào điều trị tại Cơ sở xã hội trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Điều 2. Thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy

1. Ngay sau khi phát hiện hoặc thụ lý vụ việc có người sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan Công an có trách nhiệm lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy gửi đến cơ sở y tế nơi người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy theo Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 7 năm 2015 của Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy

2. Người có thẩm quyền phải thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy như sau:

a) Đối với nhóm Opiats (các chất dạng thuốc phiện) trong thời gian 03 ngày, kể từ ngày tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy;

b) Đối với nhóm ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS) trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy.

c) Đối với trường hợp chuyển tuyến để xác định tình trạng nghiện ma túy thì tổng thời gian xác định tình trạng nghiện ma túy trong trường hợp phải chuyển tuyến không quá 07 ngày, kể từ ngày tiếp nhận người cần xác định tình trạng nghiện ma túy kèm theo hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy.

3. Cơ quan Công an đưa người cần xác định tình trạng nghiện ma túy kèm theo hồ sơ tới các cơ sở y tế để xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định.

Điều 3. Đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy

1. Chủ tịch UBND cấp xã, theo đề nghị của cơ quan Công an, ra quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn không có nơi cư trú ổn định vào Cơ sở xã hội để tiếp nhận, quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian tiến hành phân loại xử lý, lập hồ sơ chuyển Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Cơ quan Công an chịu trách nhiệm:

a) Đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn không có nơi cư trú ổn định đến Cơ sở xã hội;

b) Đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện nếu có nguyện vọng vào điều trị tại Cơ sở xã hội trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến Cơ sở xã hội.

Điều 4. Đưa người nghiện đến địa điểm phiên họp của Tòa án nhân dân

1. Cơ quan Công an chịu trách nhiệm phối hợp với Cơ sở xã hội, UBND cấp xã đưa người nghiện đến địa điểm phiên họp của Tòa án nhân dân và bảo đảm an ninh, trật tự tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

2. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội nơi phát hiện người nghiện ma túy phối hợp với Công an cấp huyện đưa người phải chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Điều 5. Kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo Điều 3 Thông tư liên tịch số 148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 08 tháng 10 năm 2014 của liên Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; chế độ đối với người chưa thành niên, người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng.

2. Việc quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.

3. Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước, nội dung và mức chi thực hiện chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh.

Điều 6. Điều khoản thi hành

1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016.

2. Các nội dung khác liên quan đến việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.

3. Giao Sở Tư pháp hướng dẫn, theo dõi việc thực hiện Quyết định này; tổng hợp kết quả thực hiện và những khó khăn, vướng mắc để kịp thời tham mưu đề xuất, kiến nghị với UBND tỉnh xem xét quyết định.

4. Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Tư pháp, Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an, Y tế; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố; Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 


Nơi nhận:
- Cục Kiểm tra văn bản-Bộ Tư pháp;
- Cục QLXLVPHC&TDTHPL-Bộ Tư pháp;
- Thường trực HĐND tỉnh;
- Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh;
- TAND tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Trung tâm CBTH;
- Cổng TTĐT tỉnh;
- Như Điều 6;
- Lưu: VT.NC.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH




Nguyễn Dương Thái

 

HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 22/2016/QĐ-UBND về quy định nội dung trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Hải Dương

  • Số hiệu: 22/2016/QĐ-UBND
  • Loại văn bản: Quyết định
  • Ngày ban hành: 01/08/2016
  • Nơi ban hành: Tỉnh Hải Dương
  • Người ký: Nguyễn Dương Thái
  • Ngày công báo: Đang cập nhật
  • Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
  • Ngày hiệu lực: 15/08/2016
  • Tình trạng hiệu lực: Còn hiệu lực
Tải văn bản