Quyết định số 182/1999/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 03 tháng 09 năm 1999 phê duyệt Đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999-2010. Đây là chính sách chiến lược nhằm khai thác tối đa tiềm năng khí hậu, sinh thái đa dạng của các vùng miền, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu.
Đề án được áp dụng trên phạm vi cả nước, hướng tới các đối tượng bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu rau, quả, hoa, cây cảnh, các hợp tác xã, trang trại gia đình, trang trại tư nhân và hộ nông dân tham gia vào chuỗi sản xuất, tiêu thụ ngành hàng này.
Phương hướng phát triển ngành rau, quả và hoa, cây cảnh
- Khai thác triệt để lợi thế về điều kiện khí hậu và sinh thái đa dạng (nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới) của từng vùng để sản xuất các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, góp phần giải quyết việc làm, phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ cảnh quan môi trường.
- Phát triển sản xuất phải gắn liền với nhu cầu của thị trường, đảm bảo khả năng cạnh tranh cao tại thị trường trong nước, khu vực và thế giới trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn.
- Tập trung phát triển tại các vùng sinh thái trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long, Lâm Đồng, Đồng bằng sông Hồng (đặc biệt là cây vụ đông) và vùng cao miền núi phía Bắc.
- Kết hợp hài hòa giữa việc cải tạo vườn tạp, thâm canh diện tích hiện có với trồng mới theo hướng vừa phát triển rộng rãi trong nhân dân, vừa hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung đối với các cây trồng chủ lực.
- Ưu tiên áp dụng công nghệ truyền thống kết hợp công nghệ sạch để bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu.
Mục tiêu phát triển cụ thể đến năm 2010
- Đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân về các loại rau, quả, hoa, cây cảnh từ thông thường đến cao cấp; khuyến khích sản xuất và chế biến nước quả giá rẻ để từng bước thay thế các loại đồ uống có cồn.
- Tạo thêm cơ hội việc làm ổn định cho khoảng 5,0 triệu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến.
- Phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt mốc 1,0 tỷ đô la Mỹ/năm vào năm 2010.
Định hướng quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát quy hoạch, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu địa phương, gắn kết chặt chẽ vùng nguyên liệu với các cơ sở chế biến.
- Hạn chế tối đa tình trạng sản xuất tự phát gây ra hiện tượng thừa thiếu cục bộ, làm thiệt hại cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng.
- Tập trung nguồn lực đầu tư cải tạo vườn tạp, xây dựng các vùng chuyên canh thâm canh các loại cây trồng có lợi thế cạnh tranh cao như dứa, chuối, nhãn, vải, xoài, cây có múi, thanh long, rau cao cấp, măng tây, hồ tiêu, hoa và cây cảnh.
Giải pháp về khoa học, công nghệ và giống cây trồng
- Về công tác giống: Tập trung tuyển chọn các giống sẵn có, nhập khẩu và lai tạo các bộ giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt để thay thế các giống thoái hóa. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các Viện nghiên cứu hỗ trợ kỹ thuật cho các địa phương xây dựng vườn giống đầu dòng nhằm cung cấp nguồn giống chuẩn cho người dân và doanh nghiệp.
- Về tổ chức nghiên cứu: Sắp xếp lại hệ thống nghiên cứu khoa học, đầu tư nâng cấp Viện nghiên cứu rau quả (thuộc Tổng công ty rau quả Việt Nam) và Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam thành các viện nghiên cứu chuyên sâu, hiện đại về rau, quả, hoa và cây cảnh.
- Về quy trình sản xuất: Nhanh chóng chuyển giao và áp dụng quy trình sản xuất sạch (sử dụng phân bón vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học), công nghệ tưới tiêu tự động, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và chế biến tiên tiến để bắt kịp trình độ các nước trong khu vực.
Giải pháp phát triển công nghiệp chế biến
- Xây dựng các cơ sở chế biến có công suất phù hợp với sản lượng của vùng nguyên liệu tập trung; việc nhập khẩu thiết bị chế biến phải đảm bảo công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.
- Hoàn thiện việc đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến nước quả và đồ hộp tại các vùng trọng điểm; nghiên cứu công nghệ chế biến sâu đối với các loại quả đặc sản mang hương vị đặc trưng của Việt Nam.
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp thiết bị tại các nhà máy chế biến dứa ở các tỉnh trọng điểm như Kiên Giang, Tiền Giang, Hà Tĩnh, Ninh Bình (Đồng Giao), Bắc Giang để giải quyết đầu ra ổn định cho người nông dân.
Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ
- Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu rau quả vào các thị trường lớn, thị trường mới đầy tiềm năng như Mỹ, Nga.
- Hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại và tìm kiếm đối tác ngoại thương.
Chính sách ưu đãi thuế, đầu tư và tín dụng
- Chính sách thuế: Đẩy nhanh việc cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Bộ Tài chính nghiên cứu áp dụng mức thuế suất ưu đãi nhất trong khung thuế hiện hành cho các cơ sở sản xuất, chế biến rau, quả, hoa và cây cảnh.
- Nguồn vốn ngân sách: Tập trung ưu tiên chi cho công tác nghiên cứu khoa học, nhập khẩu giống đầu dòng, hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực.
- Nguồn vốn tín dụng: Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch được bố trí cho các dự án đổi mới công nghệ, thiết bị chế biến và các dự án trồng cây ăn quả quy mô lớn. Vốn tín dụng thương mại đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của người trồng. Lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình giải quyết việc làm và Ngân hàng phục vụ người nghèo để hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn.
Khuyến khích các thành phần kinh tế và đào tạo nhân lực
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là mô hình kinh tế trang trại gia đình, trang trại tư nhân đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến rau quả.
- Tăng cường công tác khuyến nông, huấn luyện nông dân về kỹ thuật canh tác an toàn, hướng dẫn áp dụng công nghệ sạch, tuyệt đối không sử dụng hóa chất và thuốc trừ sâu độc hại bị cấm.
- Phát huy vai trò của các hợp tác xã và tổ chức kinh tế hợp tác trong việc phòng trừ sâu bệnh tập trung và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý, kiến thức thị trường và kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ quản lý, trước hết là giám đốc các doanh nghiệp sản xuất, chế biến.
- Mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực về khoa học, công nghệ và đào tạo chuyên gia.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Thương mại, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 182/1999/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 03 tháng 9 năm 1999 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 182/1999/QĐ-TTG NGÀY 03 THÁNG 9 NĂM 1999 VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN RAU, QUẢ VÀ HOA, CÂY CẢNH THỜI KỲ 1999-2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Xét đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999-2010 với nội dung chủ yếu sau:
I. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU:
1. Phương hướng.
- Phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh nhằm khai thác lợi thế về điều kiện khí hậu, sinh thái đa dạng (nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới) của các vùng, để sản xuất thực phẩm có giá trị dinh dưỡng đa sinh tố cho người, góp phần giải quyết việc làm, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tạo cảnh quan môi trường;
- Phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh phải gắn với nhu cầu của thị trường, có khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước, thị trường các nước trong khu vực và trên thế giới, cả trước mắt và lâu dài.
- Phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh ở các vùng trong cả nước, trong đó cần quan tâm phát triển ở một số vùng có điều kiện sinh thái đặc biệt như: đồng bằng sông Cửu Long, Lâm Đồng, đồng bằng sông Hồng (nhất là cây vụ đông), vùng cao miền núi phía Bắc; kết hợp cải tạo vườn tạp, thâm canh vườn cây hiện có với trồng mới theo hướng: vừa phát triển rộng rãi trong dân, vừa phát triển các vùng sản xuất chuyên canh cây chủ lực, được thâm canh, từng bước hiện đại hoá; sử dụng công nghệ truyền thống và công nghệ sạch để bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ và đời sống nhân dân, nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu.
2. Mục tiêu.
- Nhanh chóng thoả mãn nhu cầu đời sống nhân dân về rau, quả và hoa cây cảnh (thông thường và cao cấp), trong đó đẩy mạnh sản xuất, chế biến nước quả với giá rẻ để từng bước thay thế nước uống có cồn hiện nay;
- Tạo thêm việc làm cho khoảng 5,0 triệu người.
- Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 1,0 tỷ đô la Mỹ/năm.
II. VỀ GIẢI PHÁP:
1. Định hướng quy hoạch vùng sản xuất: Bộ Nông nghệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát lại quy hoạch sản xuất, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của từng vùng; gắn phát triển vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến; sản phẩm sản xuất ra phải xuất phát từ nhu cầu thị trường (trong nước và xuất khẩu) để quy hoạch, xây dựng kế hoạch sản xuất từng loại sản phẩm, không để nông dân sản xuất tự phát dẫn đến tình trạng khi thừa, khi thiếu gây thiệt hại cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Trước mắt, tập trung đầu tư cải tạo vườn tạp, xây dựng vùng chuyên canh tập trung, thâm canh một số cây trồng có lợi thế, có khả năng cạnh tranh được ở trong nước và ngoài nước như: dứa, chuối, nhãn, vải, xoài, cây có múi, thanh long, rau cao cấp, măng tây, hồ tiêu, hoa, cây cảnh...
2. Khoa học và công nghệ.
a) Giống: cần phải có các bộ giống tốt có năng suất cao để thay thế giống năng suất thấp, chất lượng kém hiện nay theo hướng: tuyển chọn giống sẵn có, nhập khẩu, lai tạo những giống mới năng suất cao, chất lượng tốt.
Bộ Nông nghệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Viện nghiên cứu rau quả, Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam giúp các tỉnh về kỹ thuật để các tỉnh đều có vườn giống đầu dòng nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp và nhân dân lai ghép, tạo giống tốt cung cấp cho nhu cầu của người trồng rau, quả và hoa, cây cảnh.
Trên cở sở sắp xếp lại hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học của Bộ, cần có kế hoạch đầu tư Viện nghiên cứu rau quả thuộc Tổng công ty rau quả Việt Nam hiện nay cùng với Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam trở thành các Viện nghiên cứu cùng về rau, quả và hoa, cây cảnh.
b) Nhanh chóng áp dụng và thực hiện quy trình sản xuất bằng công nghệ sạch (dùng phân vi sinh, thuốc vi sinh bảo vệ thực vật...), công nghệ tưới tiêu, công nghệ bảo quản, chế biến tiên tiến, hiện đại để trong thời gian ngắn công nghệ sản xuất, bảo quản, chế biến rau quả của Việt Nam sánh kịp các nước trong khu vực.
3. Chế biến.
a) Trên cơ sở quy hoạch vùng chuyên canh tập trung, vùng đã có sản phẩm phải được đầu tư cơ sở chế biến phù hợp giữa công suất chế biến với nguồn nguyên liệu. Việc nhập khẩu thiết bị chế biến phải đảm bảo yêu cầu về công nghệ tiên tiến và hiện đại phù hợp với yêu cầu của thị trường tiêu thụ, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng.
b) Hoàn thành đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến nước quả, đồ hộp ở một số vùng, nghiên cứu đầu tư chế biến nước quả đối với một số quả đặc sản có hương vị riêng của Việt Nam.
Trước mắt ở một số tỉnh đã trồng dứa như: Kiên Giang, Tiền Giang, Hà Tĩnh, Ninh Bình (Đồng Giao), Bắc Giang và một số địa phương khác cần sớm hoàn thành việc đầu tư xây dựng nhà máy chế biến mới hoặc đầu tư cải tạo, đổi mới thiết bị đối với nhà máy hiện có để tiêu thụ hết dứa cho người trồng dứa nhưng phải đảm bảo có thị trường tiêu thụ.
4. Thị trường.
Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ biện pháp hỗ trợ xuất khẩu rau, quả vào các thị trường lớn và mới trong đó có Mỹ, Nga, nhằm giải quyết ổn định đầu ra cho sản xuất rau, quả trước mắt và lâu dài. Tạo điều kiện và hỗ trợ các doanh nghiệp về kinh phí tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế, tiếp thị để tìm kiếm thị trường.
5. Về thuế:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sớm hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) được quy định tại Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 Quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10.
Bộ Tài chính nghiên cứu giải quyết việc áp dụng suất thuế ưu đãi nhất trong khung thuế hiện hành đối với các cơ sở sản xuất, chế biến rau, quả và hoa, cây cảnh.
6. Đầu tư và tín dụng
a) Vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho các công việc: Nghiên cứu khoa học và công nghệ; nhập khẩu, tạo giống đầu dòng; khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới về cây rau, quả và hoa, cây cảnh; đào tạo cán bộ.
b) Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch được thực hiện đối với các dự án cải tạo đổi mới công nghệ, thiết bị và đầu tư mới cho chế biến; trồng cây ăn quả theo các dự án.
c) Vốn tín dụng ngân hàng: bảo đảm vốn cho nhu cầu của người trồng rau, quả và hoa, cây cảnh.
d) Vốn thuộc Chương trình giải quyết việc làm, vốn Ngân hàng phục vụ người nghèo, nếu thuộc vùng khó khăn.
7. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh, nhất là mô hình kinh tế trang trại gia đình, trang trại tư nhân đầu tư trồng rau, quả và hoa, cây cảnh và công nghiệp chế biến.
8. Đào tạo cán bộ và huấn luyện kỹ thuật.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường hơn nữa công tác khuyến nông, khuyến lâm đề huấn luyện nông dân về kỹ thuật trồng trọt cây rau, quả và hoa, cây cảnh, nhất là hướng dẫn việc áp dụng công nghệ sạch, không sử dụng hoá chất thuốc trừ sâu độc hại trong sản xuất rau, quả và hoa, cây cảnh; phát huy vai trò tích cực của kinh tế hợp tác và hợp tác xã về phòng trừ sâu bệnh.
Có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, trước hết là giám đốc các doanh nghiệp để nâng cao kiến thức về kỹ thuật và quản lý sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.
Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học, kỹ thuật, công nghệ và đào tạo cán bộ.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3. Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Thương mại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Nguyễn Công Tạn (Đã ký) |
Quyết định 182/1999/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999-2010 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 182/1999/QĐ-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 03/09/1999
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Công Tạn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 37
- Ngày hiệu lực: 18/09/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
