Hệ thống pháp luật
Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...
Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Số :111/2007/QĐ-UBND

Vinh, ngày 27 tháng 09 năm 2007

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ X VỀ MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN ĐỂ NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO);
Căn cứ Kết luận số 13-KL/TU ngày 16 tháng 07 năm 2007 của Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh về Chương trình hành động của Tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO);
Xét
đề nghị của Giám đốc Sở Thương mại tại công văn số 575/STM-XNK ngày 27 tháng 09 năm 2007,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình hành động của UBND Tỉnh Nghệ An thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (có Chương trình hành động kèm theo).

Điều 2. Các Sở, ban ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố, thị xã căn cứ nội dung giao tại Chương trình hành động, chủ động thực hiện, báo cáo kết quả về Sở Thương mại tổng hợp để báo cáo Tỉnh uỷ, HĐND và UBND Tỉnh Nghệ An.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.

Các ông: Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở và Thủ trưởng các Ban Ngành cấp tỉnh liên quan; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Vinh, Thị xã Cửa lò chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT/CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Nguyễn Đình Chi

 

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ X VỀ MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN ĐỂ NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO
(Ban hành kèm theo Quyết định số 111/2007/QĐ-UBND ngày 27 tháng 09 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh)

Phần 1:

NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA NGHỆ AN KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, mở ra một giai đoạn mới, nền kinh tế đất nước hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới; đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo ra những cơ hội lớn để đất nước phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn, sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển.

Trước tình hình mới, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 05/02/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết trên, ở Nghệ An có những thuận lợi khó khăn nhất định, cụ thể là:

I. THUẬN LỢI:

1. Nghệ An là một tỉnh rộng, có nguồn lao động dồi dào; có đồng bằng, rừng, biển tạo nên nguồn hàng nông, lâm, hải sản xuất khẩu có giá trị; có một số khoáng sản có thể khai thác quy mô công nghiệp; bước đầu xây dựng được hệ thống giao thông thuận lợi, như: đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh chạy qua; có cảng biển, cửa khẩu quốc gia và quốc tế  … có điều kiện để phát triển giao lưu hàng hoá, du lịch, dịch vụ trong nước và với các nước bạn Lào, Thái Lan cũng như với các nước khác trên thế giới.

2. Thực hiện Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/NQ-TU ngày 26/12/2005, giai đoạn 2006 - 2010 trên địa bàn tỉnh 9 chương trình, đề án trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và công tác xây dựng Đảng đang được các cấp, Sở, ngành, địa phương triển khai với mục đích phấn đấu đưa Nghệ An thoát khỏi tỉnh nghèo và kém phát triển vào năm 2010. Bên cạnh đó Nghệ An đang được Chính phủ quan tâm; nhiều đề án có ý nghĩa chiến lược đang được triển khai thực hiện.

3. Các doanh nghiệp của Nghệ An cú di?u ki?n để duy trì các thị trường xuất khẩu truyền thống và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu vào các nước thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới với tư cách là một đối tác bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và theo mức thuế các thành viên WTO cam kết. Đây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tạo thêm việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh

4. Quyền lợi doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có doanh nghiệp Nghệ An sẽ được đấu tranh bảo vệ một cách bình đẳng với các đối tác khác trong các cuộc tranh chấp thương mại (nếu có).

5. Nghệ An có cơ hội thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào những lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế nhưng chưa được khai thác đúng tầm, như: phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển các trung tâm thương mại, du lịch, trung tâm tài chính quy mô vùng; phát triển sản xuất và chế biến nông, lâm, hải sản xuất khẩu; sản phẩm gỗ, dệt may, giày da xuất khẩu, tài nguyên khoáng sản v.v…Trên cơ sở đó có thể tạo ra cơ hội việc làm cho nhiều lao động, góp phần giải quyết công ăn việc làm trên địa bàn tỉnh.

6. Khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới, người tiêu dùng trong nước, trong đó có hơn 3 triệu người tiêu dùng Nghệ An sẽ có thêm sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá cả phù hợp. Các doanh nghiệp Nghệ An có điều kiện tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào với giá cả hợp lý, với nền khoa học công nghệ tiên tiến, thương mại và dịch vụ văn minh, hiện đại.

II. KHÓ KHĂN

1. Nghệ An vẫn là một tỉnh nghèo, ở xa các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước; cơ sở hạ tầng kém phát triển, không đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tiềm năng của tỉnh không lớn, nhiều lợi thế so sánh chưa được khai thác đúng tầm; kinh tế hàng hoá chưa phát triển; ngân sách thu chưa đủ chi; thiếu kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường; các loại hình thị trường: hàng hoá và dịch vụ, tài chính và tiền tệ, khoa học và công nghệ, đất đai và bất động sản, thị trường lao động ... đang còn chậm phát triển.

2. Nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế, về kinh tế thị trường, về tư duy kinh tế của phần đa đội ngũ cán bộ công nhân viên chức, kể cả một số lãnh đạo cấp tỉnh, ngành, huyện, thành, thị xã, lãnh đạo doanh nghiệp còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa theo kịp tình hình đổi mới của đất nước.

3. Cạnh tranh trên địa bàn Nghệ An cũng sẽ gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện rộng và sâu hơn ở cả 3 cấp độ: sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp và nhà nước với nhà nước.

Về sản phẩm, Nghệ An chưa có sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng và sản phẩm chủ lực trên thị trường trong nước và quốc tế; hàng hoá quy mô nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp. Đặc biệt, sản phẩm hàng hoá xuất khẩu Nghệ An hầu như không có, hoặc có nhưng chiếm tỷ lệ không đáng kể trong danh mục 10 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, như: sản phẩm dầu khí; dệt may; giày da; thuỷ sản; sản phẩm gỗ; hàng điện tử và máy tính; gạo tẻ; cao su; cà phê và than đá.

Theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, từ nay hàng hoá và dịch vụ Nghệ An phải cạnh tranh khốc liệt với sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu cùng loại ngay trên thị trường trong tỉnh, nhất là trong vòng 3 - 5 năm tới, khi thuế nhập khẩu giảm đáng kể theo lộ trình.

Về doanh nghiệp, Nghệ An chưa có doanh nghiệp đầu tàu với những sản phẩm chủ lực; đặc biệt trong những năm đầu gia nhập WTO, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sẽ gặp không ít khó khăn trong quá trình sản xuất, kinh doanh, do sức cạnh tranh yếu, thể hiện: đa phần đều là doanh nghiệp nhỏ, vốn ít; công nghệ lạc hậu; trình độ quản trị doanh nghiệp thấp, thiếu cán bộ quản lý năng động, có năng lực thực tiễn; nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề: thương hiệu hàng hoá và danh tiếng doanh nghiệp là tài sản vô giá của tỉnh cũng như của doanh nghiệp trong quá trình thâm nhập thị trường thế giới; đầu tư sản xuất chưa gắn với thị trường; hiệu suất đầu tư, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thấp.

Khi Việt Nam là thành viên của WTO, do phải mở cửa thị trường, thực hiện các cam kết quốc tế, nên các nhà máy, các cơ sở sản xuất hàng hoá trên địa bàn Nghệ An sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh khá gay gắt, rất dễ lâm vào tình trạng đình đốn, phá sản nếu không có sự chuẩn bị đầu tư , cải tiến tốt.

Về bộ máy hành chính nhà nước cấp tỉnh, cơ cấu bộ máy cồng kềnh; chức năng, thẩm quyền còn chồng chéo; tư duy kinh tế của đội ngũ cán bộ, công chức yếu; chất lượng tham mưu chưa cao, thiếu tầm chiến lược. Một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu kém về kiến thức quản lý hành chính, kỹ năng thực thi công vụ, năng lực thực tiễn, ngoại ngữ và tin học, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Đặc biệt Nghệ An còn thiếu một đội ngũ luật sư giỏi, thông thạo luật pháp quốc tế và ngoại ngữ để tham gia giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho các doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh.

4. Trong giai đoạn đầu hội nhập người nông dân sẽ rất lúng túng khi chuyển sang sản xuất hàng hoá trong điều kiện làm ăn nhỏ lẻ và phải đối mặt với các quy định của WTO, đó là:

- Quy định về an toàn thực phẩm: Luật này yêu cầu trong suốt quá trình sản xuất (bắt đầu từ khâu chuẩn bị nông trại, canh tác đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ …), hàng hoá Việt Nam phải có chứng chỉ “nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt” (Good Agricultural Practices - GAP) để chứng minh mặt hàng này bảo đảm tính vệ sinh và an toàn sản phẩm.

- Quy định về chất lượng: Hàng hoá nông, lâm, hải sản Việt Nam phải cần rất nhiều chứng chỉ, chẳng hạn như chứng chỉ xác nhận nguồn gốc giống, chứng chỉ báo cáo chất lượng (hàm lượng protein, chống oxy hoá, vitamine, đồng bộ về giống, độ chín …) để chứng minh hàng hoá có chất lượng cao và bổ dưỡng.

- Quy định về số lượng: Với yêu cầu hàng hoá phải lớn về số lượng, thị phần, vừa đồng bộ (giống, kích cỡ, màu sắc, bao bì) và chính xác về thời gian giao hàng đã cam kết.

- Quy định về giá cả sản phẩm: Để tăng sức cạnh tranh, giá cả là một trong những yếu tố quyết định. Đây là thứ “luật bất thành văn” của bất cứ một cơ sở sản xuất hay một quốc gia nào trên thế giới tham gia vào “sân chơi WTO”.

Những quy định trên đây, thực tế sản phẩm hàng hoá nông nghiệp Nghệ An chưa đáp ứng được.

5. Áp lực về nguồn nhân lực sẽ rất lớn đối với cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, do nguồn lao động nhiều, nhưng chất lượng lao động thấp; đội ngũ cán bộ chuyên môn giỏi, doanh nhân năng động, thành thạo ngoại ngữ, có kinh nghiệm giao dịch đối ngoại, chuyên gia có tầm quản lý hoạch định chính sách kinh tế đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn tỉnh còn thiếu và yếu. Lực lượng lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỉ trọng lớn, số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn ít, năng suất thấp; tỉnh còn thiếu đội ngũ công nhân lành nghề, bậc thợ cao… Trong khi đó, Nghệ An rất khó thu hút nhân tài về tỉnh làm việc so với các tỉnh, thành phố khác như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu…, do doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh kém phát triển, cơ hội tìm kiếm việc làm với thu nhập khá không nhiều, cán bộ có trình độ kỹ thuật cao, giỏi ngoại ngữ, tin học ít có cơ hội được thể hiện tài năng, ít có cơ hội được trọng dụng.

Phải nhận thức được rằng, trong nền kinh tế thị trường, khi hội  nhập và mở cửa, mức độ cạnh tranh sẽ lớn hơn, công nghệ mới, kỹ thuật mới đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao hơn. Đây là cơ hội kích thích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhưng cũng là thách thức đối với công tác đào tạo, đối với lao động trung niên và cao tuổi hiện đang làm việc có khả năng thay đổi để thích ứng thấp hơn so với lao động trẻ.

Khi có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Nghệ An hay vào các tỉnh lân cận, lao động trên địa bàn tỉnh sẽ có nhiều biến động: Các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước rất dễ bị mất cán bộ giỏi. Nguy cơ "chảy máu chất xám" rất dễ xảy ra nếu không có sự chuẩn bị tốt. Một bộ phận không nhỏ người lao động cũng sẽ gặp khó khăn khi tìm kiếm và giữ chỗ việc làm do một số doanh nghiệp có thể dễ bị phá sản, đình đốn sản xuất; hoặc do doanh nghiệp sa thải người để tái cơ cấu sản xuất đủ sức cạnh tranh. 

6. Tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa kinh tế có thể làm tăng thêm sự phân phối lợi ích không đồng đều giữa các khu vực, các ngành, các vùng, miền trên địa bàn tỉnh: có những bộ phận dân cư ít được hưởng lợi, thậm chí còn bị tác động tiêu cực; một bộ phận doanh nghiệp có thể bị phá sản, thất nghiệp có thể tăng lên; khoảng cách giàu - nghèo, mức sống giữa nông thôn và thành thị sẽ có sự chênh lệch lớn hơn từ đó có thể dẫn đến những yếu tố gây bất ổn định xã hội.

7. Cùng với những thách thức trong lĩnh vực kinh tế, quá trình hội nhập quốc tế sẽ tác động tiêu cực đến việc đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái cho phát triển bền vững của đất nước.

Phải nhận thức được rằng, sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO mang lại cho Nghệ An nhiều cơ hội mới, nhưng cũng đặt ra những thách thức, khó khăn không nhỏ, trong đó cơ hội chỉ là tiềm năng, còn thách thức thì rất hiện hữu; đòi hỏi phải có sự đồng thuận, sự nỗ lực của toàn dân cũng như sự quan tâm đầu tư của Trung ương đối với tỉnh nhà.

Phần 2:

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO

I. MỤC TIÊU

Chương trình hành động này nhằm cụ thể hoá Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Kết luận số 13/KL-TU ngày 16/7/2007 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XVI) để  nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên địa bàn tỉnh về hội nhập kinh tế quốc tế, qua đó tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội để đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hoá và dịch vụ, tăng cường thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, từng bước giải quyết các vấn đề bức xúc về xã hội và môi trường, tiếp tục cải cách hành chính gắn với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tận dụng cơ hội vượt qua thách thức, phát huy những lợi thế so sánh của tỉnh, tạo thế và lực mới đưa Nghệ An thoát khỏi tỉnh nghèo và kém phát triển vào năm 2010 và bước vào giai đoạn phát triển mới, nhanh và bền vững.

II. NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU:

Để đạt được mục tiêu trên, trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các Sở, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thành phố và thị xã, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần tổ chức triển khai thực hiện những nhiệm vụ cơ bản dưới đây.

1. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến thông tin về  WTO

Phải nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về chủ trương gia nhập WTO của Đảng và Nhà nước; những cơ hội và thách thức khi Việt Nam là thành viên của WTO. Cụ thể là:

1.1. Tổ chức quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X; Chương trình hành động của Chính phủ, Chương trình hành động của Nghệ An về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

1.2. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các tổ chức Đoàn thể, Hiệp hội trên địa bàn tỉnh; đưa nội dung cam kết gia nhập WTO của Việt Nam vào phổ biến tại Trường Chính trị tỉnh, các Trung tâm chính trị tại các huyện, thành phố, thị xã; mở các lớp tập huấn, các hội nghị, hội thảo để phổ biến các cơ hội, thách thức, các luật lệ của WTO, nội dung cam kết theo từng lĩnh vực cụ thể  khi Việt Nam gia nhập WTO cho các đối tượng có liên quan (cơ quan nhà nước, các chủ thể sản xuất, kinh doanh, các hiệp hội ngành nghề) để các đối tượng này hiểu biết đầy đủ nội dung cam kết, các công việc mà họ phải làm, phát huy ý chí tự lực tự cường của các cấp ngành, địa phương, doanh nghiệp nhằm tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động.

1.3. Tổng hợp, cập nhật và biên soạn tài liệu liên quan tới HNKTQT, các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, kinh nghiệm hội nhập của các nước có điểm tương đồng với Việt Nam, các quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng và nhà nước về hội nhập để phổ biến kiến thức cho các đối tượng liên quan trên địa bàn tỉnh.

2. Đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

2.1. Tiếp tục thực hiện Đề án nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giai đoạn 2 (2006 - 2010).  Xây dựng Nghệ An trở thành một trong những trung tâm giáo dục đào tạo đại học của cả nước với chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc gia và khu vực. Quy hoạch phát triển thêm số trường đại học và kêu gọi đầu tư nước ngoài xây dựng trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế trên địa bàn tỉnh.

2.2. Phát triển mạnh hệ thống dạy nghề đa cấp, đa trình độ (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề) chuyển từ dạy nghề trình độ thấp sang trình độ cao nhằm nâng cao chất lượng lao động cho thị trường lao động. Chuyển mạnh đào tạo nghề theo định hướng cung gắn với cầu lao động, cung cấp lao động có chất lượng về tay nghề, sức khoẻ, có kỷ luật, tác phong công nghiệp, có văn hoá … cho thị trường trong nước và xuất khẩu lao động.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đầu tư đào tạo đội ngũ luật sư am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế, giỏi ngoại ngữ, tin học với hình thức đa dạng, phù hợp với từng đối tượng là cán bộ quản lý và chuyên gia, đội ngũ doanh nhân, công nhân kỹ thuật.

2.3. Xây dựng và triển khai Chương trình đào tạo Tiếng Anh phổ cập tại các trường phổ thông, các trường chuyên nghiệp theo chương trình Quốc gia về đào tạo tiếng Anh trên địa bàn Nghệ An.

2.4. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 04-NQ-TU ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Tỉnh uỷ về phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt, trong thời gian tới cần:

- Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập trong giai đoạn mới, ngoài nghiệp vụ chuyên môn cần chú trọng trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức pháp luật và quản lý nhà nước.

- Quan tâm công tác bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức của các Sở, ban, ngành cấp tỉnh và các địa phương;

- Xây dựng quy chế tuyển chọn cán bộ, công chức và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế này theo tiêu chuẩn quy định.

- Lựa chọn một số cán bộ trẻ có khả năng phát triển để cử đi đào tạo ở nước ngoài, cả về chuyên môn, luật pháp và ngoại ngữ.

- Thực hiện nghiêm túc quy chế khen thưởng đối với những cán bộ, công chức có thành tích xuất sắc và kỷ luật nghiêm minh đối với những người vi phạm đạo đức công vụ, không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

3. Tiếp tục cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước, phòng chống tham nhũng, lãng phí

3.1. Triển khai thực hiện kế hoạch cải cách hành chính nhà nước tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010 theo tinh thần Quyết định số 135/2006/QĐ-UBND ngày 27/12/2006 của UBND tỉnh.

3.2. Trong thời gian tới, công tác cải cách hành chính cần tiếp tục triển khai một cách quyết liệt theo hướng công khai, minh bạch về quy trình thủ tục, thời gian giải quyết công việc; hướng dẫn và cung cấp đầy đủ thông tin cho doanh nghiệp và người dân; nâng cao trách nhiệm, kỹ năng, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước; thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là những lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng, các thủ tục đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng ...

3.3. Đổi mới trình độ và phương pháp quản lý nhà nước theo hướng nâng cao chất lượng tham mưu của đội ngũ cán bộ công chức; nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học, năng lực thực tiễn; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức có hiểu biết về pháp luật, nhất là pháp luật quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập.

3.4. Triển khai thực hiện đồng bộ Nghị quyết TW 3, Luật và Chương trình hành động của Chính phủ về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng cơ bản, thu chi ngân sách, quản lý tài nguyên khoáng sản, tài sản công, tuyển dụng cán bộ. Tích cực phòng ngừa, xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, lãng phí.

4. Nâng cao năng lực cạnh tranh

4.1. Phấn đấu thực hiện Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Phát triển thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá vùng Bắc Trung bộ để đến năm 2010 đạt các tiêu chí đô thị loại I. Phấn đấu xây dựng thành phố Vinh trở thành Trung tâm dịch vụ lớn của vùng, bao gồm: dịch vụ thương mại, du lịch, ngân hàng - tài chính, dịch vụ Logistic, mở sàn giao dịch chứng khoán …. và coi đây là bước đột phá thúc đẩy kinh tế xã hội Nghệ An phát triển.

4.2. Tiếp tục thực hiện các đề án liên quan tới phát triển hạ tầng giao thông Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010 đã được UBND tỉnh phê duyệt. ưu tiên tập trung nguồn lực vào việc nâng cấp các tuyến đường giao thông giữ vai trò kết nối, liên thông giữa các vùng có lượng hàng hóa lưu chuyển lớn, hệ thống giao thông vùng nguyên liệu, các khu công nghiệp, phục vụ du lịch.  Tranh thủ sự đầu tư của Nhà nước, trực tiếp là Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, để tập trung đầu tư thực hiện các dự án nâng cấp sân bay Vinh, phát triển cảng biển nước sâu Cửa Lò, cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn, cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ, ga Vinh … nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh; thêm sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư vào đầu tư tại Nghệ An.

4.3. Đa dạng hoá phát triển nguồn cung cấp năng lượng trên địa bàn tỉnh. Tập trung đầu tư phát triển hệ thống cấp điện, bao gồm các đường dây 220 KV; 110 KV; mạng đường dây trung thế; các trạm biến thế; các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện theo quy hoạch, đảm bảo chủ động cung cấp điện cho các doanh nghiệp theo yêu cầu.

4.4. Xây dựng quy hoạch về nguồn nước cung cấp cho các đô thị và nông thôn nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Thường xuyên làm tốt công tác duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hồ đập để đảm bảo an toàn trong mùa mưa lũ, cung cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Tiếp tục nâng cấp hệ thống thuỷ nông Bắc, thuỷ nông Nam đảm bảo tưới ổn định diện tích trong hệ thống và thực hiện chương trình bê tông hoá kênh mương.

4.5. Tranh thủ sự đầu tư của Bộ Bưu chính Viễn thông xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại, đồng bộ và rộng khắp trên địa bàn tỉnh, cung cấp các dịch vụ đa dạng, chất lượng cao tương xứng với Trung tâm công nghệ - thông tin quy mô vùng Bắc Trung bộ. Đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước theo Nghị định số 64/2007/ND-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ; bảo đảm an toàn thông tin môi trường mạng, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực công nghệ thông tin, tạo điều kiện phát triển sàn giao dịch thương mại điện tử, Chính phủ điện tử hậu Việt Nam gia nhập WTO trên địa bàn tỉnh.

4.6. Đẩy mạnh tốc độ đô thị hoá, phát triển các đô thị trung tâm, đô thị ngoại vi và các điểm dân cư nông thôn nhằm tạo ra một bức tranh phân bố dân cư mới. Xây dựng Chương trình phát triển đô thị trong thời kỳ hội nhập theo hướng văn minh, hiện đại, môi trường trong sạch, phát triển ổn định, cân bằng và bền vững.

4.7. Huy động mọi nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ các khu công nghiệp, khu kinh tế, cụ thể: đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Nam Cấm. Khẩn trương hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể, chi tiết Khu kinh tế Đông Nam; mời gọi các nhà đầu tư có tầm cỡ vào đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ các khu công nghiệp, khu kinh tế.

4.8. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm Nghệ An trong điều kiện hội nhập; chú trọng công tác xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm/doanh nghiệp.

- Trong thời gian tới, mỗi một doanh nghiệp cần phải chủ động:

+ Điều chỉnh cơ cấu và quy mô sản xuất trên cơ sở xác định đúng đắn chiến lược sản phẩm và thị trường; tăng năng lực tài chính, ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế.

+ Nâng cao trình độ quản trị kinh doanh; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, coi trọng xây dựng và quảng bá thương hiệu, văn hóa của doanh nghiệp; đổi mới phương pháp tiếp cận thị trường, nhất là thị trường ngoài nước.

+ Chú trọng xây dựng và đào tạo đội ngũ quản trị doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ chuyên môn giỏi nghiệp vụ, thành thạo ngoại ngữ, đội ngũ công nhân lành nghề.

+ Đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất và quản lý hoạt động của doanh nghiệp; phát triển thương mại điện tử để tăng khả năng mở rộng thị trường.

- Khuyến khích doanh nghiệp tham gia các Hiệp hội ngành hàng (chè, thuỷ sản, dệt may, cà phê, cao su …); tăng cường vai trò Hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh làm cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường, thông tin, đào tạo nguồn nhân lực.

- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án đầu tư phát triển trung tâm hội chợ triển lãm Nghệ An, tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

5. Huy động mọi nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, từng bước hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

5.1. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11/TU ngày 24/4/2002 của Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ (khoá XV) về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TW5 (khoá IX) đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010.

5.2. Xây dựng hệ thống các chính sách: (i) Thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất gắn với giải quyết việc làm bằng cách chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành, nghề khác và xoá đói giảm nghèo; (ii) khuyến khích phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ ở nông thôn phát triển các làng nghề, cụm công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn; (iii) khuyến khích các cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng lao động không yêu cầu trình độ, kỹ năng lao động cao chuyển về nông thôn hoặc đầu tư ở khu vực nông thôn.

5.3. Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, tập trung. Phát triển mạnh hệ thống khuyến nông, thú y, bảo vệ thực vật, kiểm lâm trên địa bàn tỉnh để giúp nông dân áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật và đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm vào sản xuất, chế biến nông lâm thuỷ hải sản. Tăng cường hơn nữa xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là hệ thống thuỷ lợi, điện và thông tin v.v... Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nông thôn và phát triển hệ thống dịch vụ, thương mại.

5.4. Tăng cường công tác phổ biến và tập huấn cho nông dân hiểu rõ các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam liên quan tới nông nghiệp và phát triển nông thôn, đặc biệt là “4 Luật chơi” mà người người nông dân phải đối mặt, đó là: Quy định về an toàn thực phẩm (GAP), chất lượng, số lượng và giá cả.

6. Rà soát bổ sung, sửa đổi và xây dựng mới hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp với cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

6.1. Tiến hành rà soát hệ thống cơ chế, chính sách hiện hành do HĐND, UBND tỉnh ban hành, loại bỏ những quy định không phù hợp với cam kết gia nhập WTO của Việt Nam. Hướng dẫn thực thi các văn bản quy phạm pháp luật kịp thời, bảo đảm tự do kinh doanh hàng hoá và dịch vụ của mọi chủ thể tham gia thị trường trên địa bàn tỉnh, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh.

6.2. Tiếp tục xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định của Chính phủ, bao gồm chính sách khuyến thương, khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư; hệ thống chính sách phát triển các loại hình hợp tác xã; chính sách khuyến khích xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hoá Nghệ An, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến …. làm đòn bẩy kinh tế kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển.

6.3. Tạo cơ chế mở sàn giao dịch chứng khoán tại thành phố Vinh nhằm thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán, để mở thêm kênh thu hút vốn đầu tư cho các doanh nghiệp trên địa bàn Nghệ An.

7.  Đổi mới và  nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trên địa bàn Tỉnh

7.1. Đẩy mạnh Chương trình xúc tiến đầu tư gắn với phát triển nguồn thu ngân sách, giai đoạn 2006 - 2010, theo Nghị quyết số 03/NQ-TU ngày 08 /6/2006 của Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ.

7.2. Nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi chính sách hiện hành về ưu đãi, hỗ trợ các dự án đầu tư vào Nghệ An theo hướng tạo môi trường hấp dẫn, thông thoáng để mời gọi các nhà đầu tư vào Nghệ An theo đúng luật pháp và không trái với cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.

7.3. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính liên quan tới quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thủ tục cho các nhà đầu tư, bảo đảm thông thoáng, đúng luật.

7.4. Nghiên cứu tạo quỹ đất; đổi mới công tác giải phóng mặt bằng, cung cấp dịch vụ cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào Nghệ An; tăng cường hơn nữa công tác xúc tiến đầu tư, quảng bá, giới thiệu ra nước ngoài về các tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đa dạng hóa hình thức huy động vốn đầu tư.

7.5. Tranh thủ sự giúp đỡ của các Bộ ngành Trung ương, cơ quan Sứ quán nước ngoài tại Việt Nam, cơ quan Sứ quán và Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, các Hiệp hội ngành hàng (như Hiệp hội chè, dệt may, thuỷ sản, cà phê…); trong việc mời gọi các nhà đầu tư có tầm cỡ trong nước và quốc tế vào Nghệ An đầu tư phát triển.

8. Giải quyết các vấn đề an sinh xã hội nảy sinh trong quá trình thực thi các cam kết gia nhập WTO trên địa bàn tỉnh

8.1. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu giải quyết việc làm; Chương trình mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010; Đề án “Phát triển xuất khẩu lao động” trên địa bàn tỉnh.

Chú trọng phát triển cầu lao động từ các khu vực kinh tế chủ yếu của tỉnh, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã, kinh tế dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản, phát triển làng nghề, đẩy mạnh xuất khẩu lao động v.v…

8.2. Triển khai đồng bộ các chính sách xã hội, bao gồm chính sách hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ tự tạo việc làm, dạy nghề để chuyển đổi nghề nghiệp, cung cấp các dịch vụ tư vấn việc làm, thông tin thị trường lao động để giải quyết vấn đề lao động bị mất việc làm do các doanh nghiệp không đứng vững được trong quá trình cạnh tranh và nông dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị. Thực hiện tốt Luật Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và chế độ trợ cấp xã hội cho các đối tượng đặc thù.

8.3. Ngăn chặn, đẩy lùi tai nạn giao thông; tăng cường công tác phòng chống tội phạm ma tuý; tập trung truy quét các tụ điểm và đường dây buôn bán ma tuý và mại dâm. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các Trung tâm giải quyết việc làm sau cai nghiện. Thực hiện tốt công tác phòng chống HIV/AIDS.

9. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

9.1. Triển khai thực thi nghiêm túc h? th?ng phỏp lu?t v? b?o v? mụi tru?ng trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường. Tăng cường công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xử lý môi trường.

9.2. Kiểm soát ô nhiễm và quản lý các chất thải của các cơ sở sản xuất (nhất là tại các khu công nghiệp, nhà máy …), bệnh viện và rác thải sinh hoạt; quản lý tốt việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

9.3. Chú trọng công tác bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, trong đó sớm giải quyết dứt điểm những vấn đề môi trường bức xúc.

10. Bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá dân tộc

10.1. Tăng cường kiểm soát, xử lý sự xâm nhập các sản phẩm và dịch vụ văn hóa không lành mạnh, gây phương hại đến văn hóa truyền thống dân tộc; làm tốt công tác bảo vệ sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh.

Bảo tồn và phát triển văn hoá xứ Nghệ, văn hoá các dân tộc thiểu số trong tỉnh; bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá và xây dựng các làng, xã, đơn vị văn hoá trên địa bàn tỉnh.

10.2. Tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống thông tin đại chúng. Kiên quyết ngăn chặn các hành vi lạm dụng các phương tiện thông tin đại chúng để đưa thông tin thiếu trung thực, làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục và sản xuất, kinh doanh, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, nền kinh tế và làm mất ổn định chính trị xã hội. Nâng cao chất lượng thông tin của các cơ quan báo chí.

10.3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực văn hoá; kiểm tra và chấn chỉnh các hoạt động của nhà hàng, vũ trường, karaoke. Tiếp tục thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"; xây dựng đạo đức, nếp sống và làm việc theo pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và lối sống văn hoá trong thanh thiếu niên.

11. Đảm bảo quốc phòng, an ninh

11.1. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế xã hội với xây dựng khu vực phòng thủ, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.

11.2. Đảm bảo an ninh kinh tế, an ninh thông tin, nhất là bảo vệ bí mật nhà nước, phòng chống có hiệu quả các hoạt động tình báo, gián điệp, các loại tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức, tội phạm sử dụng công nghệ cao, lừa đảo quốc tế. Đảm bảo môi trường an ninh kinh tế đối với hoạt động đầu tư, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả và cạnh tranh lành mạnh;

11.3. Xây dựng các phương án đấu tranh chống lại âm mưu diễn biến hoà bình, chuyển hoá chế độ của các lực lượng thù địch. Có đối sách để bảo đảm an ninh chính trị, an ninh thông tin... Bảo đảm trật tự và an toàn xã hội trước những khuynh hướng biến đổi nhanh, phức tạp và khó lường của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn toàn tỉnh.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Trên cơ sở những nhiệm vụ và nội dung chủ yếu trong Chương trình hành động này đã được cụ thể hoá tại Phụ lục số 1; Các chương trình, đề án trọng điểm thực hiện Nghị quyết 01/NQ-TU ngày 26/12/2005 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ khoá XVI ban hành kèm theo Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 03/01/2006; Quyết định số 742/QĐ-UBND ngày 02/3/2006 của UBND tỉnh; căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và thị xã xây dựng Chương trình hành động của ngành, địa phương mình, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh và cụ thể hoá thành các nhiệm vụ trong kế hoạch công tác hàng năm.

Ngoài ra một số Sở, ngành cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

1. Giao Sở Giao thông Vận tải tiếp tục làm việc với Bộ Giao thông Vận tải giúp Nghệ An đầu tư phát triển cảng biển nước sâu khu vực Cửa Lò; đầu tư nâng cấp sân bay Vinh, hệ thống đường bộ, đường sắt đoạn chạy qua Nghệ An, hệ thống giao thông cửa khẩu Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn), Thanh Thuỷ (huyện Thanh Chương), Thông Thụ (huyện Quế Phong) …

2. Giao Sở Công nghiệp tiếp tục làm việc với Bộ Công Thương về phát triển nguồn cung cấp năng lượng trên địa bàn Nghệ An.

3. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư:

3.1. Chủ trì phối hợp với các Sở, ngành, địa phương liên quan khẩn trương xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An với lộ trình cụ thể.

3.2. Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và các Sở, ngành, địa phương liên quan xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực  và bố trí vốn đầu tư phục vụ cho các chương trình, dự án trọng điểm, chú trọng các chương trình phát triển sản xuất, chế biến hàng hoá xuất khẩu, phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở, Chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của Nghệ An … đưa vào kế hoạch vốn hàng năm.

4. Giao Sở Tài chính nghiên cứu, xây dựng cơ chế mở sàn giao dịch chứng khoán tại Vinh nhằm thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán trên địa bàn tỉnh, tạo thêm kênh thu hút vốn đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, trình UBND tỉnh xem xét, quyết định đầu năm 2008.

5. Giao Sở Nội vụ, trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức, xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập trong giai đoạn mới và quy chế tuyển dụng, trong đó ngoài nghiệp vụ chuyên môn cần chú trọng trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức quản lý nhà nước, trình UBND tỉnh quyết định vào đầu quý 1 năm 2008.

6. Giao Sở Thương mại theo dõi, đôn đốc thực hiện Chương trình này; phối hợp với các Sở, ngành thực hiện Chương trình HNKTQT của Nghệ An; tham mưu trình UBND tỉnh kiện toàn lại Ban Chỉ đạo Chương trình HNKT quốc tế của tỉnh;  theo dừi, tổng hợp tình hình thực hiện Chương trình này và Chương trình hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn tỉnh theo định kỳ 6 tháng, hàng năm và đột xuất, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh.

Giao Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các cơ quan cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và thị xã căn cứ nội dung liên quan chủ động thực hiện Chương trình hành động này; định kỳ hàng năm, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh tình hình thực hiện. Trong quá trình thực hiện, có vấn đề phát sinh cần sửa đổi, bổ sung, chủ động báo cáo về Sở Thương mại tổng hợp trình Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Nguyễn Đình Chi