Quy định số 1971-LB-TM-XD do Liên bộ Thương mại và Bộ Xây dựng ban hành nhằm điều hành hoạt động nhập khẩu xi măng trong năm 1995. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thể hiện sự phối hợp giữa hai Bộ trong việc quản lý nguồn cung, ổn định thị trường vật liệu xây dựng và đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng trong nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp phép, giám sát nhập khẩu; các doanh nghiệp thương mại có chức năng nhập khẩu xi măng và các đơn vị sử dụng xi măng trong ngành xây dựng tại Việt Nam trong giai đoạn năm 1995.
Nội dung cốt lõi của phần mở đầu và các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
- Nguyên tắc phối hợp liên bộ: Xác định cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Thương mại và Bộ Xây dựng trong việc cân đối cung cầu xi măng toàn quốc, tránh tình trạng thiếu hụt hoặc ứ đọng hàng hóa trên thị trường.
- Mục tiêu điều hành nhập khẩu: Đảm bảo việc nhập khẩu xi măng được thực hiện theo đúng kế hoạch, tiến độ và chủng loại phù hợp với nhu cầu thực tế của các công trình xây dựng trong nước.
- Quản lý hạn ngạch và chỉ tiêu: Quy định các nguyên tắc cơ bản về việc phân bổ chỉ tiêu nhập khẩu xi măng cho các đầu mối được phép thực hiện, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả kinh tế.
- Vai trò giám sát thị trường: Thiết lập cơ sở pháp lý ban đầu để các cơ quan chức năng theo dõi sát sao diễn biến giá cả, chất lượng xi măng nhập khẩu nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và sản xuất trong nước.
Hiệu lực thi hành
Quy định 1971-LB-TM-XD có hiệu lực áp dụng cho công tác điều hành nhập khẩu xi măng trong năm tài khóa 1995 theo các quyết định và hướng dẫn cụ thể của Liên bộ Thương mại - Xây dựng.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ THƯƠNG MẠI-BỘ XÂY DỰNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1971-LB-TM-XD | Hà Nội, ngày 28 tháng 2 năm 1995 |
Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phân công trách nhiệm trong điều hành nhập khẩu và tiêu thụ cement nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong cả nước.
Căn cứ thảo luận nguyên tắc về phối hợp điều hành thị trường cement năm 1995 giữa Bộ Thương mại và Bộ Xây dựng (thông báo số 529/BXD - KH ngày 20/12/1994), hai Bộ thống nhất ban hành quy định về điều hành nhập khẩu cement năm 1995 như sau:
Căn cứ vào nhịp độ tăng trưởng, tốc độ đầu tư xây dựng cơ bản. Bộ Xây dựng dự báo nhu cầu tiêu thụ cement trong cả nước năm 1995 là 7,5 - 7,7 triệu tấn.
- Khả năng sản xuất trong nước là 5,5 triệu tấn
- Nhu cầu nhập khẩu là 2,0 - 2,2 triệu tấn (trong đó 1 triệu tấn clinker và 1 - 1,2 triệu tấn cement).
Bộ Thương mại và Bộ Xây dựng phối hợp việc điều hành nhập khẩu cement thông qua Tổ Điều hành liên Bộ gồm:
- Đại diện Bộ Thương mại (Vụ Xuất nhập khẩu, Vụ kế hoạch, Vụ quản lý kinh doanh).
- Đại diện Bộ Xây dựng (Vụ Kế hoạch, Tổng công ty xi - măng).
- Đại diện Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước.
- Đại diện Ban Vật giá Chính phủ.
Tổ điều hành họp giao ban trước ngày 10 của mỗi tháng tại Bộ Thương mại để kiểm điểm tình hình thực hiện nhập khẩu cement và đề xuất với lãnh đạo hai Bộ hướng dẫn các doanh nghiệp đưa hàng về đúng nơi có nhu cầu và kịp thời gian.
a. Bộ Xây dựng chỉ định danh sách các đơn vị trực thuộc nhập khẩu clinker và cement, các đơn vị này phải bảo đảm thực hiện nhập khẩu đủ số hạn mức được giao. Trên cơ sở đề nghị của Bộ Xây dựng, Bộ Thương mại giao hạn mức nhập khẩu 1 triệu tấn clinker và 500.000 tấn cement để các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng nhập khẩu.
b. Bộ Thương mại giao hạn mức nhập khẩu số cement còn lại cho các doanh nghiệp khác thực hiện.
4. Doanh nghiệp làm đầu mối nhập khẩu cement.
Nhằm đảm bảo việc nhập khẩu và điều phối đạt kết quả, phù hợp với chủ trương giảm bớt đầu mối nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu, doanh nghiệp được chọn làm đầu mối nhập khẩu cement năm 1995 cần đạt được các tiêu chuẩn sau:
a. Có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, có ngành hàng nhập khẩu phù hợp.
b. Năm 1994 đã nhập khẩu 10.000 tấn cement đen trở lên hoặc những đơn vị có nhu cầu nhập khẩu xi măng năm 1994 và đủ điều kiện thực hiện nhưng vì hết chỉ tiêu nên chưa được giải quyết.
c. Khu vực miền trung và miền Nam có nhu cầu sử dụng cement lớn do đó số đơn vị được chọn làm đầu mối nhập khẩu nhiều hơn.
d. Doanh nghiệp làm đầu mối nhập khẩu clinker là doanh nghiệp sản xuất cement được Bộ xây dựng thông báo chỉ tiêu kế hoạch trước ngày 15/2/1995 để nhập khẩu cho nhu cầu cả năm.
a. Việc phân bổ chỉ tiêu nhập khẩu cement năm 1995 được giao một lần ngày đầu năm kế hoạch, trong đó có dự kiến địa điểm, số lượng và thời điểm hàng về từng đợt. Trường hợp thay đổi cảng dỡ hàng và thời điểm hàng về doanh nghiệp phải có văn bản báo cáo xin phép Bộ Thương mại trước khi hàng về ít nhất 15 ngày.
b. Đầu tháng, các doanh nghiệp được giao chỉ tiêu nhập khẩu phải báo cáo Bộ Thương mại (Vụ Xuất nhập khẩu) về dự kiến thời điểm hàng về.
c. Hai tháng trước thời điểm quy định hàng về nếu doanh nghiệp xét thấy không có khả năng thực hiện phải điện báo cáo Bộ Thương mại (Vụ Xuất nhập khẩu) và Bộ Xây dựng (Vụ kế hoạch) để giao chỉ tiêu nhập khẩu cho doanh nghiệp khác thực hiện.
d. Quy định này không áp dụng đối với việc nhập khẩu cement của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Năm 1995, năm đầu tiên thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phân công trách nhiệm trong việc nhập khẩu xi măng, vì vậy hai Bộ sẽ thường xuyên trao đổi theo dõi và chỉ đạo việc nhập khẩu xi măng; các đơn vị được giao nhiệm vụ (danh sách kèm theo) nếu không có khả năng thực hiện sẽ phải điều chỉnh chỉ tiêu để đơn vị khác thực hiện.
Trường hợp đặc biệt nếu doanh nghiệp không phải là đầu mối nhập khẩu cement mà có nhu cầu nhập khẩu khẩn cấp thì Bộ Thương mại và Bộ Xây dựng sẽ xem xét để giải quyết từng trường hợp cụ thể.
Các quy định điều hành nhập khẩu cement năm 1995 này có hiệu lực thực hiện từ ngày ký. Mọi sự thay đổi đều phải được sự đồng ý của hai Bộ.
Quy định 1971-LB-TM-XD điều hành nhập khẩu xi măng năm 1995 do Bộ Thương Mại và Bộ xây Dựng ban hành
- Số hiệu: 1971-LB-TM-XD
- Loại văn bản: Quy định
- Ngày ban hành: 28/02/1995
- Nơi ban hành: Bộ Thương mại, Bộ Xây dựng
- Người ký:
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/02/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
