Giới thiệu chung về Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 04:2009/BTNMT
Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 04:2009/BTNMT là văn bản pháp quy kỹ thuật quan trọng do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, quy định các yêu cầu kỹ thuật bắt buộc phải tuân thủ trong quá trình xây dựng lưới tọa độ quốc gia tại Việt Nam. Quy chuẩn này đóng vai trò nền tảng trong việc đảm bảo tính thống nhất, độ chính xác và tính đồng bộ của hệ thống tọa độ phục vụ cho công tác đo đạc, bản đồ và quản lý đất đai trên phạm vi cả nước.
Thông tin thuộc tính văn bản
- Tên quy chuẩn: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 04:2009/BTNMT về xây dựng lưới tọa độ.
- Cơ quan ban hành: Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Tình trạng hiệu lực, ngày ban hành và ngày áp dụng: Chưa có thông tin cụ thể trong dữ liệu trích xuất.
Cấu trúc và nội dung cốt lõi của Quy chuẩn QCVN 04:2009/BTNMT
Dựa trên danh mục và các phần trích xuất, quy chuẩn tập trung vào các nội dung trọng tâm sau:
1. Phần mở đầu và các điều khoản chung (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Đây là phần định hình khung pháp lý và kỹ thuật ban đầu cho toàn bộ quy chuẩn, bao gồm:
- Phạm vi điều chỉnh: Xác định rõ các hoạt động xây dựng lưới tọa độ thuộc đối tượng áp dụng của quy chuẩn trên phạm vi toàn quốc.
- Đối tượng áp dụng: Quy định các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động liên quan đến đo đạc, bản đồ và xây dựng lưới tọa độ tại Việt Nam phải tuân thủ quy chuẩn này.
- Giải thích từ ngữ và quy định chung: Làm rõ các khái niệm chuyên ngành, các tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản làm căn cứ thiết lập lưới tọa độ.
2. Quy định về phần mềm và phiên hiệu máy thu
Để đảm bảo tính chính xác trong việc thu nhận và xử lý dữ liệu tọa độ, quy chuẩn đưa ra các yêu cầu kỹ thuật đối với:
- Thiết bị thu tín hiệu (Máy thu): Quy định về phiên hiệu, tính năng kỹ thuật và tiêu chuẩn kiểm định đối với các loại máy thu GPS/GNSS được sử dụng trong đo đạc lưới tọa độ.
- Phần mềm xử lý dữ liệu: Yêu cầu về các phần mềm chuyên ngành dùng để tính toán, bình sai lưới tọa độ, đảm bảo tính tương thích và độ tin cậy của kết quả đầu ra.
3. Phần các phụ lục đính kèm
Các phụ lục là bộ phận không thể tách rời của quy chuẩn, cung cấp các hướng dẫn chi tiết, biểu mẫu và bảng biểu kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công, giám sát và nghiệm thu công trình xây dựng lưới tọa độ trên thực địa.
Lưu ý: Các thông tin chi tiết hơn về số hiệu văn bản, ngày ban hành và nội dung cụ thể của từng điều khoản cần được tham chiếu trực tiếp từ văn bản gốc do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
QCVN 04 : 2009/BTNMT do Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam biên soạn, Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành theo Thông tư số: 06/2009/TT-BTNMT ngày 18 tháng 6 năm 2009.
1. Phạm vi điều chỉnh
Quy chuẩn này quy định yêu cầu kỹ thuật trong việc xây dựng lưới tọa độ quốc gia và là một thành phần của chuẩn hệ quy chiếu tọa độ quốc gia.
2. Đối tượng áp dụng
Quy chuẩn này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ ở đất liền, vùng trời và vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi có hoạt động liên quan đến việc xây dựng lưới tọa độ quốc gia. Trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của quy chuẩn này thì áp dụng các quy định của Điều ước quốc tế đó.
3. Giải thích thuật ngữ:
Các thuật ngữ trong quy chuẩn này được hiểu như sau:
3.1. Cạnh 0 (cạnh có chiều dài bằng 0): Là một khái niệm thường được sử dụng trong kiểm tra các máy thu tín hiệu vệ tinh bằng cách kết nối một ăng ten thu tín hiệu vệ tinh với hai máy thu tín hiệu vệ tinh thông qua bộ cáp chia tín hiệu.
3.2. Giãn cách thu tín hiệu (Data Sampling): Là khoảng thời gian được tính bằng đơn vị giây trị đo được ghi vào bộ nhớ của máy thu.
3.3. Cạnh độc lập (Independent Baseline): Trong cùng một ca đo có n máy thu tín hiệu vệ tinh tham gia, tổng số cạnh (Baselines) có thể tính được là n(n-1)/2 nhưng chỉ có n-1 các cạnh này là độc lập, các cạnh còn lại được gọi là các cạnh thường được tạo ra từ các tổ hợp của dữ liệu pha được dùng để tính các cạnh độc lập. Một cạnh được đo trong 2 ca đo khác nhau là độc lập.
3.4. Trượt chu kỳ (Cycle Slips): Trong công nghệ GPS cũng như các công nghệ đo khoảng cách bằng trị đo pha sóng tải khác tại một thời điểm nhận tín hiệu thiết bị chỉ có thể đo được chính xác độ lệch pha giữa sóng đến và sóng đi trong khi đó khoảng cách cần xác định được tính d = n.l + ∆f.l (∆f là độ lệch pha đo được). Như vậy, cần xác định số nguyên lần bước sóng từ vệ tinh đến máy thu (n). Thông thường với chế độ xử lý đo tĩnh cần một khoảng thời gian nhất định xử lý đo lặp để xác định giá trị n ban đầu này. Với việc xử lý đo tĩnh nhanh có thể kết hợp với giả khoảng cách từ trị đo Code để xác định số n ban đầu với thời gian nhanh hơn. Sau khi xác định được số nguyên ban đầu, các phần mềm xử lý Real time hoặc xử lý sau sẽ duy trì việc theo dõi số n thông qua số trị đo lệch pha liên tiếp. Khi giá trị lệch pha lớn hơn 1 chu kỳ thì số n được tính lại n=n+1 và giá trị lệch pha ∆f = ∆f -1 chu kỳ. Khi giá trị lệch pha < 0 thì số n được tính lại n=n-1 và giá trị lệch pha ∆f=1 chu kỳ + ∆f. Nhưng trong thực tế tín hiệu có thể bị mất, việc duy trì theo dõi số n bị gián đoạn đây được gọi là hiện tượng trượt chu kỳ. Như vậy, sau khi tín hiệu thu được trở lại, việc xác định lại số n ban đầu mới cũng phải tiến hành lại.
3.5. Lời giải trị nguyên đa trị (Ambiguity Resolution): Trong trị đo pha, số lượng chu kỳ của sóng mang giữa máy thu và vệ tinh thông thường trong lần thu tín hiệu đầu tiên là không biết được và được gọi là trị nguyên đa trị và đó là một số nguyên. Sai phân đơn (Single differences) và sai phân kép (Double differences) cũng bị ảnh hưởng bởi trị nguyên đa trị, được tạo bởi tổ hợp tuyến tính của những trị đo pha (ví dụ một trị nguyên đa trị đơn hoặc kép khác biệt). Khi số của những trị nguyên đa trị không xác định chính xác được, phần mềm xử lý có thể tự ước lượng chúng. Trong vài trường hợp, những ước lượng giá trị thực (real-valued) này có thể được sử dụng để hiệu chỉnh các giá trị nguyên chính xác mà những giá trị này sau đó được giữ cố định. Những điều đó lần lượt được gọi là “lời giải nguyên đa trị” (Ambiguity Resolution) và “cố định trị nguyên đa trị” (Ambiguity fixing).
Về nguyên tắc, lời giải Fixed sẽ được sử dụng khi các trị nguyên đa trị có thể quy được về số nguyên chính xác với sai
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Thông tư 06/2009/TT-BTNMT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng lưới tọa độ do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 2Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 11:2008/BTNMT về xây dựng lưới độ cao do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 3Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6025:1995 (ISO 3893:1977) về bê tông - phân mác theo cường độ nén
Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 04:2009/BTNMT về xây dựng lưới tọa độ do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- Số hiệu: QCVN04:2009/BTNMT
- Loại văn bản: Quy chuẩn
- Ngày ban hành: 18/06/2009
- Nơi ban hành: Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/10/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra