Tóm tắt Phụ lục số 201/WTO/VB về Cơ chế rà soát Chính sách Thương mại (TPRM)
Phụ lục này quy định về Cơ chế rà soát Chính sách Thương mại (Trade Policy Review Mechanism - TPRM), một trong những công cụ pháp lý quan trọng nhất của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm bảo đảm tính minh bạch, giám sát việc thực thi các cam kết đa biên và thúc đẩy sự vận hành hiệu quả của hệ thống thương mại toàn cầu. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết nội dung Phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của văn bản.
Mục tiêu và Nguyên tắc cốt lõi của Cơ chế rà soát
Phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên khẳng định mục đích tối cao của cơ chế rà soát là đóng góp vào việc nâng cao tính minh bạch và sự hiểu biết lẫn nhau về các chính sách, thực tiễn thương mại của các thành viên. Các nguyên tắc chủ đạo bao gồm:
- Tăng cường sự tuân thủ: Hỗ trợ tất cả các thành viên thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết, quy tắc và kỷ luật đã thỏa thuận trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại đa biên và nhiều bên.
- Đánh giá tác động chính sách: Đánh giá một cách khách quan tác động của các chính sách và thực tiễn thương mại nội địa đối với hệ thống thương mại đa biên, từ đó khuyến khích các quốc gia hướng tới các chính sách cởi mở và tự do hóa hơn.
- Nguyên tắc không tài phán: Văn bản nhấn mạnh cơ chế rà soát này hoàn toàn mang tính chất giám sát và minh bạch hóa, không được sử dụng làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp pháp lý, không áp đặt các nghĩa vụ mới hoặc hạn chế quyền lợi của các thành viên đã được quy định trong các hiệp định của WTO.
Phạm vi áp dụng và Nghĩa vụ của các Thành viên
Quy định đặt ra khuôn khổ pháp lý bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên trong việc tham gia vào quy trình rà soát:
- Phạm vi rà soát toàn diện: Đối tượng rà soát bao gồm toàn bộ các chính sách, biện pháp và thực tiễn thương mại của thành viên có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ.
- Trách nhiệm giải trình và minh bạch: Các thành viên có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực và kịp thời cho Ban Thư ký WTO để phục vụ cho quá trình đánh giá.
Chu kỳ và Tần suất rà soát chính sách
Để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, tần suất rà soát được thiết lập dựa trên tỷ trọng và tầm ảnh hưởng của thành viên đó trong nền thương mại thế giới:
- Nhóm các thành viên có thị phần thương mại lớn nhất: Trải qua quy trình rà soát định kỳ với tần suất dày đặc nhất (thường là 2 năm một lần) để đảm bảo các nền kinh tế lớn luôn duy trì chính sách thương mại ổn định và minh bạch.
- Nhóm các thành viên có thị phần trung bình: Được thực hiện rà soát định kỳ theo chu kỳ trung bình (thường là 4 năm một lần).
- Các thành viên còn lại: Áp dụng chu kỳ rà soát dài hơn (thường là 6 năm một lần). Đối với các nước kém phát triển nhất (LDCs), quy trình rà soát có thể được linh hoạt kéo dài thời gian hơn nhằm phù hợp với năng lực quản lý và điều kiện kinh tế đặc thù của họ.
Quy trình lập báo cáo và Thảo luận đa phương
Cơ chế rà soát được vận hành thông qua một quy trình làm việc chặt chẽ và khách quan:
- Báo cáo của Thành viên: Quốc gia được rà soát phải tự xây dựng một báo cáo chi tiết mô tả về chính sách thương mại hiện hành, các cải cách pháp luật và định hướng phát triển kinh tế đối ngoại của mình.
- Báo cáo độc lập của Ban Thư ký WTO: Ban Thư ký WTO có trách nhiệm soạn thảo một báo cáo độc lập, khách quan dựa trên các thông tin thu thập được từ thành viên và các nguồn dữ liệu đáng tin cậy khác.
- Thảo luận tại Cơ quan Rà soát (TPRB): Cả hai báo cáo trên sẽ được công bố công khai và đưa ra thảo luận, chất vấn trực tiếp tại các phiên họp của Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại, tạo cơ hội cho các thành viên khác đưa ra ý kiến đóng góp và yêu cầu giải trình.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
PHỤ LỤC 3
CƠ CHẾ RÀ SOÁT CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
Các Thành viên, bằng Phụ lục này, thỏa thuận như sau:
A. Các Mục tiêu
(i) Mục đích của Cơ chế Rà soát Chính sách Thương mại (“TPRM”) là nhằm làm cho các Thành viên tuân thủ triệt để các quy tắc, nguyên tắc và cam kết được ghi nhận trong các Hiệp định Thương mại Đa biên và các Hiệp định Thương mại Nhiều bên khi các Hiệp định này có thể được áp dụng, nhờ đó hệ thống thương mại đa biên vận hành suôn sẻ hơn, đạt được sự minh bạch hơn và hiểu biết nhiều hơn về các chính sách và thực tiễn thương mại của các Thành viên. Theo đó, cơ chế rà soát cho phép đánh giá và thẩm định tập thể thường xuyên toàn bộ phạm vi chính sách và thực tiễn thương mại của từng thành viên và tác động của chúng đối với sự vận hành của hệ thống thương mại đa biên. Tuy nhiên, Phụ lục này không nhằm tạo ra cơ sở cho việc thi hành các nghĩa vụ cụ thể theo các Hiệp định hoặc theo các thủ tục giải quyết tranh chấp, hoặc để áp đặt các cam kết chính sách mới đối với các Thành viên.
(ii) Việc đánh giá theo cơ chế rà soát sẽ được tiến hành, trong phạm vi thích hợp, trong bối cảnh chung của các nhu cầu, chính sách và mục tiêu kinh tế và phát triển của Thành viên liên quan, cũng như môi trường bên ngoài của nước Thành viên này. Tuy nhiên, chức năng của cơ chế rà soát là xem xét tác động của các chính sách và thực tiễn thương mại của một Thành viên đối với hệ thống thương mại đa biên.
B. Sự minh bạch nội địa
Các Thành viên thừa nhận giá trị cố hữu của các quyết sách thương mại minh bạch nội địa của chính phủ cho cả nền kinh tế của các Thành viên và hệ thống thương mại đa biên, và đồng ý khuyến khích và tăng cường sự minh bạch hơn nữa trong các hệ thống của họ, công nhận rằng việc thực hiện minh bạch nội địa phải dựa trên cơ sở tự nguyện và có tính đến hệ thống chính trị và pháp luật của mỗi Thành viên.
C. Các Thủ tục rà soát
(i) Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại (dưới đây gọi là “TPRB”) được thành lập để tiến hành việc rà soát chính sách thương mại.
(ii) Các chính sách và thực tiễn thương mại của tất cả các Thành viên sẽ được rà soát định kỳ. Tác động của từng Thành viên đối với chức năng của hệ thống thương mại đa biên, được xác định theo thị phần của họ trong thương mại thế giới trong một giai đoạn tiêu biểu gần nhất, sẽ là nhân tố xác định việc quyết định về tần suất rà soát. Bốn thực thể thương mại đầu tiên đã được xác định như thế (Cộng đồng Châu Âu được tính là một) sẽ được rà soát 2 năm một lần. Mười sáu thực thể thương mại tiếp sau sẽ được rà soát 4 năm một lần. Các Thành viên khác được rà soát 6 năm một lần, trừ trường hợp có thể áp dụng một giai đoạn dài hơn cho các nước Thành viên kém phát triển nhất. Điều này được hiểu rằng việc rà soát các thực thể có một chính sách đối ngoại chung áp dụng cho hai hoặc nhiều Thành viên sẽ bao hàm tất cả các thành tố cấu thành chính sách ảnh hưởng đến thương mại, kể cả các thực tiễn và chính sách có liên quan của từng Thành viên. Trừ trường hợp những thay đổi trong các thực tiễn và chính sách thương mại của một Thành viên có thể tác động đáng kể đến các đối tác thương mại của thành viên này, Thành viên có liên quan có thể được TPRB yêu cầu, sau khi đã tham vấn, trình các tài liệu về sự thay đổi đó trước khi có lần rà soát tiếp theo.
(iii)Những thảo luận trong các cuộc họp của TPRB được điều chỉnh bởi các mục tiêu quy định tại đoạn A. Trọng tâm của những cuộc thảo luận này sẽ tập trung vào các thực tiễn và chính sách thương mại của Thành viên thuộc đối tượng được đánh giá theo cơ chế rà soát này.
(iv)TPRB sẽ lập một kế hoạch cơ bản để tiến hành các cuộc rà soát. TPRB cũng có thể thảo luận và lập bản ghi nhớ về những báo cáo đã được các Thành viên cập nhật. TPRB sẽ lập một chương trình rà soát hàng năm có tham vấn với các Thành viên có liên quan trực tiếp. Khi tham vấn với Thành viên hoặc các Thành viên được rà soát, Chủ tịch có thể chọn người tham gia thảo luận, những người này sẽ tham gia với tư cách cá nhân, để trình bày những cuộc thảo luận đó trong TPRB.
(v)TPRB sẽ tiến hành công việc của mình dựa trên các tài liệu sau:
(a)một báo cáo đầy đủ, nêu tại đoạn D, do một Thành viên hoặc các Thành viên được rà soát cung cấp;
(b)một báo cáo, được Ban Thư ký soạn thảo, dựa trên thông tin có sẵn do một Thành viên hoặc các Thành viên có liên quan cung cấp. Ban Thư ký sẽ yêu cầu một hoặc các Thành viên có liên quan làm rõ các thực tiễn và chính sách thương mại của họ.
(vi)Những báo cáo của Thành viên được rà soát và báo cáo của Ban Thư ký, cùng với các biên bản cuộc họp liên quan của TPRB, sẽ nhanh chóng được công bố sau khi rà soát.
(vii)Những tài liệu này sẽ được chuyển cho Hội nghị Bộ trưởng để xem xét.
D. Báo cáo
Để đạt được sự minh bạch ở cấp độ cao nhất có thể, mỗi Thành viên phải báo cáo thường xuyên cho TPRB. Những báo cáo đầy đủ phải mô tả được các thực tiễn và chính sách thương mại mà Thành viên hoặc các Thành viên liên quan áp dụng, dựa trên một mẫu thống nhất đã được TPRB quyết định. Mẫu này ban đầu sẽ dựa vào Mẫu Đề cương cho các Báo cáo Quốc gia được lập theo Quyết định ngày 19/7/1989 (BISD 36S/406-409), sẽ được bổ sung khi cần thiết để mở rộng nội dung của các báo cáo về tất cả các khía cạnh của các chính sách thương mại thuộc sự điều chỉnh của các Hiệp định Thương mại Đa biên trong Phụ lục 1 và, nếu có thể, thuộc sự điều chỉnh của các Hiệp định Thương mại Nhiều bên. Mẫu này có thể được TPRB xem xét lại theo kinh nghiệm. Giữa các cuộc rà soát, các Thành viên sẽ trình bày các báo cáo vắn tắt khi có bất kỳ các thay đổi đáng kể trong các chính sách thương mại của họ; những thông tin số liệu cập nhật hàng năm sẽ được cung cấp theo mẫu đã thoả thuận. Sự quan tâm đặc biệt đối với những khó khăn của những nước Thành viên kém phát triển nhất trong việc biên soạn các báo cáo của họ. Ban Thư ký sẽ sẵn sàng trợ giúp kỹ thuật theo yêu cầu của các Thành viên đang phát triển, đặc biệt đối với các Thành viên kém phát triển nhất. Các thông tin trong các báo cáo ở mức độ tối đa có thể nên được kết hợp với các thông báo được thực hiện theo các điều khoản của các Hiệp định Thương mại Đa biên, nếu có thể, thì thực hiện theo cả các điều khoản của các Hiệp định Thương mại Nhiều bên.
E. Mối quan hệ với các quy định về cán cân thanh toán của
GATT 1994 và GATS
Các Thành viên thừa nhận sự cần thiết giảm thiểu gánh nặng đối với các chính phủ phải đạt được sự tham vấn đầy đủ theo các điều khoản về cán cân thanh toán của GATT 1994 hoặc GATS. Nhằm mục đích này, Chủ tịch của TPRB , có tham vấn với một hoặc các Thành viên liên quan, cùng với Chủ tịch của Uỷ ban về các Hạn chế Cán cân Thanh toán, xây dựng các thoả thuận hành chính để hài hoà chu kỳ bình thường của các cuộc rà soát chính sách thương mại với thời gian biểu cho các cuộc tham vấn về cán cân thanh toán nhưng không trì hoãn việc rà soát chính sách thương mại quá 12 tháng.
F. Đánh giá Cơ chế
TPRB sẽ thực hiện việc đánh giá về hoạt động của TPRM không chậm hơn 5 năm sau khi Hiệp định Thành lập WTO có hiệu lực. Các kết quả của việc đánh giá sẽ được trình lên Hội nghị Bộ trưởng. TPRB có thể thực hiện các đánh giá tiếp theo về TPRB trong khoảng thời gian do TPRB tự quyết định hoặc theo yêu cầu của Hội nghị Bộ Trưởng.
G. Đánh giá chung về sự phát triển trong môi trường thương mại quốc tế
TPRB cũng sẽ tiến hành việc đánh giá chung hàng năm về sự phát triển trong môi trường thương mại quốc tế có tác động đến hệ thống thương mại đa biên. Việc đánh giá chung này sẽ được sự hỗ trợ của báo cáo hàng năm của Tổng Thư ký trong đó có nêu ra những hoạt động chính của WTO và các vấn đề chính sách quan trọng nổi bật ảnh hưởng đến hệ thống thương mại.
| FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
|
- 1Cơ chế rà soát chính sách thương mại - TPRM
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Công văn 3060/BNN-HTQT năm 2013 nội dung phiên rà soát chính sách thương mại của EU tại WTO do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 4Quyết định 1081/QĐ-LĐTBXH năm 2016 Kế hoạch thực hiện khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 1Cơ chế rà soát chính sách thương mại - TPRM
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Công văn 3060/BNN-HTQT năm 2013 nội dung phiên rà soát chính sách thương mại của EU tại WTO do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 4Quyết định 1081/QĐ-LĐTBXH năm 2016 Kế hoạch thực hiện khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
Phụ lục số 201/WTO/VB về cơ chế rà soát Chính sách Thương mại
- Số hiệu: 201/WTO/VB
- Loại văn bản: WTO_Văn bản
- Ngày ban hành: 15/04/1994
- Nơi ban hành: WTO
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra

