Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1981 do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều khoản quan trọng liên quan đến quyền bầu cử, ứng cử, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử và các chế tài xử lý vi phạm trong công tác bầu cử.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này áp dụng đối với mọi công dân nước Cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam, các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các chính đảng, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức phụ trách bầu cử trên phạm vi cả nước.
Quy định về quyền bầu cử và ứng cử của công dân
- Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử.
- Công dân từ đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Hội đồng nhân dân các cấp.
- Trường hợp ngoại lệ không được thực hiện quyền bầu cử và ứng cử bao gồm những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền này.
- Công dân đang phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam vẫn có đầy đủ quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định chung.
Quy định chi tiết về số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Pháp lệnh phân chia cụ thể số lượng đại biểu được bầu dựa trên quy mô dân số và đặc điểm địa lý của từng cấp hành chính:
- Hội đồng nhân dân xã, phường và thị trấn: Đối với khu vực miền xuôi có từ 2.000 dân trở xuống được bầu 20 đại biểu; nếu trên 2.000 dân thì cứ thêm 200 dân được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không quá 50 đại biểu. Riêng các xã dưới 300 dân được bầu từ 15 đến 20 đại biểu.
- Hội đồng nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã:
- Huyện miền xuôi và quận có từ 50.000 dân trở xuống được bầu 40 đại biểu; trên 50.000 dân thì cứ thêm 4.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 70 đại biểu.
- Huyện miền núi và hải đảo có từ 20.000 dân trở xuống được bầu 40 đại biểu; trên 20.000 dân thì cứ thêm từ 1.500 đến 2.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 70 đại biểu.
- Thành phố thuộc tỉnh có từ 60.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; trên 60.000 dân thì cứ thêm 5.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 80 đại biểu.
- Thị xã có từ 20.000 dân trở xuống được bầu 40 đại biểu; trên 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 70 đại biểu.
- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đặc khu:
- Tỉnh miền xuôi có từ 500.000 dân trở xuống được bầu 70 đại biểu; trên 500.000 dân thì cứ thêm 20.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 140 đại biểu.
- Tỉnh miền núi có từ 250.000 dân trở xuống được bầu 70 đại biểu; trên 250.000 dân thì cứ thêm 10.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 140 đại biểu.
- Thành phố trực thuộc trung ương có từ 600.000 dân trở xuống được bầu 70 đại biểu; trên 600.000 dân thì cứ thêm 20.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu.
- Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được bầu tối đa không quá 160 đại biểu.
- Thành phố Hải Phòng được bầu tối đa không quá 140 đại biểu.
- Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được bầu cố định 50 đại biểu.
Quy trình hiệp thương, giới thiệu và nộp hồ sơ ứng cử
- Hiệp thương giới thiệu người ứng cử: Tại mỗi đơn vị bầu cử, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam địa phương có trách nhiệm chủ trì, kết hợp việc tham khảo ý kiến của tập thể nhân dân lao động tại cơ sở với việc hiệp thương cùng các chính đảng, đoàn thể nhân dân để lập danh sách giới thiệu những người ứng cử.
- Thời hạn và thành phần hồ sơ ứng cử: Chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam địa phương phải nộp cho Hội đồng bầu cử các tài liệu gồm: Giấy giới thiệu người ứng cử; Đơn ứng cử (ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nguyên quán, địa chỉ, nơi ra ứng cử); Giấy chứng nhận người ứng cử đủ điều kiện theo quy định. Hội đồng bầu cử có trách nhiệm cấp giấy biên nhận ngay khi nhận đủ hồ sơ.
Quy định về hoạt động cổ động, vận động bầu cử
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam địa phương, các chính đảng, đoàn thể nhân dân và mọi công dân Việt Nam đều có quyền thực hiện cổ động bằng các hình thức hợp pháp để giới thiệu người ứng cử.
- Bản thân người ứng cử cũng có quyền tự cổ động cho chính mình theo các quy định của pháp luật hiện hành.
Chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử
Pháp lệnh bổ sung và sửa đổi nghiêm khắc các hình phạt đối với các hành vi xâm phạm trật tự bầu cử:
- Hành vi cản trở bầu cử: Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép nhằm làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử hoặc bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân thì có thể bị phạt tù đến hai năm.
- Hành vi gian lận của người có chức trách: Thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử, nhân viên cơ quan nhà nước, đoàn thể, đơn vị vũ trang hoặc công dân có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác làm sai lệch kết quả bầu cử, bãi miễn thì có thể bị phạt tù đến ba năm.
- Hành vi vi phạm vì mục đích phản cách mạng: Trường hợp vi phạm các quy định của Pháp lệnh bầu cử nhằm mục đích phản cách mạng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc theo quy định của pháp luật hiện hành về tội phản cách mạng.
- Hành vi cản trở, trả thù người tố cáo: Mọi công dân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong bầu cử hoặc bãi miễn đại biểu. Người nào có hành vi cản trở hoặc trả thù người tố cáo thì có thể bị phạt tù đến ba năm.
Hiệu lực và hướng dẫn thi hành
Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết để hướng dẫn và tổ chức thi hành thống nhất Pháp lệnh này trên phạm vi cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: Không số | Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 1981 |
PHÁP LỆNH
SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU KHOẢN CỦA PHÁP LỆNH NĂM 1961 QUY ĐỊNH THỂ LỆ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Căn cứ vào Nghị quyết ngày 18 tháng 12 năm 1980 của Quốc hội quy định một số điểm về việc thi hành Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Sau khi xét đề nghị của Hội đồng Chính phủ về việc sửa đổi và bổ sung một số điều khoản của Pháp lệnh năm 1961 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp cho phù hợp với Hiến pháp mới và tình hình, nhiệm vụ mới;
Sau khi nghe ý kiến của Uỷ ban dự án pháp luật của Quốc hội;
QUYẾT NGHỊ:
Sửa đổi và bổ sung một số điều khoản của pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1961 như sau:
Điều 1: Thay Điều 2, Điều 3 và Điều 4 bằng Điều 2 mới như sau:
Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biết dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, và từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó.
Công dân đang ở trong quân đội nhân dân có quyền bầu cử và có thể được bầu vào Hội đồng nhân dân các cấp.
Điều 2: Sửa đổi Điều 11 như sau:
1- Hội đồng nhân dân xã, phường và thị trấn.
Xã, phường và thị trấn miền xuôi có từ 2. 000 người trở xuống được bầu cử 20 đại biểu; có trên 2.000 người thì cứ thêm 200 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 50 đại biểu.
Các xã dưới 300 người được bầu từ 15 đến 20 đại biểu.
2- Hội đồng nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã.
Huyện miền xuôi và quận có từ 50.000 người trở xuống được bầu cử 40 đại biểu; có trên 50.000 thì cứ thêm 4.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 70 đại biểu.
Huyện miền núi và hải đảo có từ 20.000 người trở xuống được bầu cử 40 đại biểu; có trên 20.000 người được thì cứ thêm từ 1.500 người đến 2.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 70 đại biểu.
Thành phố thuộc tỉnh có từ 60.000 người trở xuống được bầu cử 50 đại biểu; có trên 60.000 người thì cứ thêm 5.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 80 đại biểu.
Thị xã có từ 20.000 người trở xuống được bầu cử 40 đại biểu; có trên 20.000 người thì cứ thêm 2.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 70 đại biểu.
3- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đặc khu Vũng tàu - Côn đảo.
Tỉnh miền xuôi có từ 500.000 người trở xuống được bầu cử 70 đại biểu; có trên 500.000 người thì cứ thêm 20.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 140 đại biểu.
Tỉnh miền núi có từ 250.000 người trở xuống được bầu cử 70 đại biểu; có trên 250.000 người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 140 đại biểu.
Thành phố trực thuộc trung ương có từ 600.000 người trở xuống được bầu cử 70 đại biểu; có trên 600.000 người thì cứ thêm 20.000 người được bầu thêm 1 đại biểu.
Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được bầu không quá 160 đại biểu.
Thành phố Hải phòng được bầu không quá 140 đại biểu.
Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được bầu 50 đại biểu.
Điều 3: Sửa Điều 25 như sau:
ở mỗi đơn vị bầu cử, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương kết hợp việc tham khảo ý kiến của tập thể nhân dân lao động ở cơ sở với việc hiệp thương với các chính đảng, các đoàn thể nhân dân để giới thiệu danh sách những người ứng cử.
Điều 4: Sửa Điều 28 như sau:
Chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương phải nộp tại Hội đồng bầu cử:
1- Giấy giới thiệu người ứng cử;
2- Đơn ứng cử của những người được giới thiệu có ghi tên, tuổi, nghề nghiệp, nguyên quán địa chỉ, nơi ra ứng cử;
3- Giấy chứng nhận người ứng cử có đủ điều kiện ứng cử nói ở Điều 1.
Khi nhận các giấy tờ nói trên, Hội đồng bầu cử phải cấp giấy biên nhận.
Điều 5: Sửa Điều 31 như sau:
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân, cũng như công dân Việt Nam, theo quy định của pháp luật, có quyền cổ động bằng mọi hình thức để giới thiệu người ứng cử.
Người ứng cử có quyền cổ động cho bản thân mình, theo quy định của pháp luật.
Điều 6: Sửa tên Chương X như sau: Chương X: Việc xử lý những hành động vi phạm Pháp lệnh bầu cử.
Điều 7: Sửa Điều 61 như sau:
Người nào dùng các thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử và bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân, thì có thể bị phạt tù đến hai năm.
Điều 8: Sửa Điều 62 thành Điều 62a như sau:
Thành viên Hội đồng bầu cử, ban bầu cử, tổ bầu cử, hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường và thị trấn và nhân viên các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các đơn vị bộ đội và mọi công dân có trách nhiệm trong công tác bầu cử phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng mọi thủ đoạn khác để làm sai lạc kết quả bầu cử hoặc bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân, thì có thể bị phạt tù đến ba năm.
Điều 9: Thêm Điều 62b mới như sau:
Trong những trường hợp vi phạm Pháp lệnh bầu cử vì mục đích phản cách mạng, thì người phạm tội bị trừng trị theo pháp luật hiện hành về tội phản cách mạng.
Điều 10: Sửa Điều 63 như sau:
Mọi người có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong lúc bầu cử hoặc bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân. Ai cản trở hoặc trả thù người tố cáo thì có thể bị phạt tù đến ba năm.
Điều 11: Hội đồng Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
|
| Trường Chinh (Đã ký) |
Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1981
- Số hiệu: Khôngsố
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 22/01/1981
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Trường Chinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 06/02/1981
- Ngày hết hiệu lực: 02/01/1984
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
