Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 2012 nhằm quy định một cách toàn diện về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp điển; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện pháp điển và các điều kiện bảo đảm cho công tác pháp điển tại Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này điều chỉnh hoạt động rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành (ngoại trừ Hiến pháp) để xây dựng Bộ pháp điển. Đối tượng áp dụng bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác pháp điển.
Các nguyên tắc cốt lõi trong thực hiện pháp điển
Việc thực hiện pháp điển phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau:
- Không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được pháp điển.
- Sắp xếp theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật từ cao xuống thấp.
- Cập nhật kịp thời quy phạm pháp luật mới được ban hành vào Bộ pháp điển và loại bỏ ngay quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển.
- Tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục thực hiện pháp điển theo quy định của pháp luật.
Thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan nhà nước
Thẩm quyền thực hiện pháp điển được phân định rõ ràng giữa các cơ quan trung ương:
- Bộ, cơ quan ngang bộ: Thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật trong văn bản do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.
- Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước: Thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật trong văn bản do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình.
- Văn phòng Quốc hội: Thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành điều chỉnh những vấn đề không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan nêu trên.
- Văn phòng Chủ tịch nước: Thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản do Chủ tịch nước ban hành không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan nêu trên.
Cấu trúc và các chủ đề của Bộ pháp điển
Bộ pháp điển được xây dựng là Bộ pháp điển chính thức của Nhà nước, được sử dụng để tra cứu trong áp dụng và thực hiện pháp luật. Cấu trúc của Bộ pháp điển được quy định cụ thể:
- Cấu trúc hệ thống: Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm. Các mục này được đánh số thứ tự và có chỉ dẫn liên quan. Các điều được ký hiệu để phân biệt hình thức văn bản và ghi chú rõ ràng để nhận biết điều của văn bản gốc.
- Hệ thống 45 chủ đề: Bộ pháp điển bao gồm 45 chủ đề bao quát toàn bộ các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, tư pháp, hành chính, tài chính, thuế, tài nguyên, môi trường, y tế, giáo dục, lao động, xây dựng, giao thông, doanh nghiệp, dân sự, hình sự, tố tụng, và tổ chức bộ máy nhà nước.
- Bổ sung chủ đề mới: Chính phủ quyết định bổ sung chủ đề mới theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Thủ tướng Chính phủ quyết định lộ trình xây dựng Bộ pháp điển và phân công cơ quan thực hiện pháp điển đối với từng đề mục.
Quy trình thực hiện pháp điển theo đề mục
Quy trình xây dựng một đề mục trong Bộ pháp điển được thực hiện qua các bước chặt chẽ:
- Xây dựng cấu trúc đề mục: Dựa theo cấu trúc của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội thuộc nội dung của đề mục. Cơ quan thực hiện có thể bổ sung phần, chương, mục nếu cần thiết.
- Thu thập và rà soát: Thu thập, phân loại các văn bản quy phạm pháp luật thuộc đề mục; rà soát loại bỏ nội dung không chứa quy phạm pháp luật hoặc đã hết hiệu lực; phát hiện và kiến nghị xử lý các quy phạm mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp thực tế.
- Tập hợp và sắp xếp: Sắp xếp các quy phạm pháp luật còn hiệu lực theo thứ bậc hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp. Các quy phạm quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành được sắp xếp ngay sau quy phạm được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đó.
Thẩm định, hoàn thiện và thông qua kết quả pháp điển
Kết quả pháp điển phải trải qua quá trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt trước khi đưa vào Bộ pháp điển:
- Thẩm định: Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập và làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định (gồm đại diện cơ quan thực hiện, Ủy ban pháp luật của Quốc hội, các cơ quan liên quan và chuyên gia). Hội đồng thẩm định đánh giá tính chính xác, đầy đủ, sự phù hợp của vị trí quy phạm và việc tuân thủ trình tự thủ tục. Kết luận thẩm định được gửi đi trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ.
- Hoàn thiện và ký xác thực: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận kết luận thẩm định, cơ quan thực hiện chỉnh lý, hoàn thiện kết quả. Thủ trưởng cơ quan thực hiện ký xác thực kết quả và gửi Bộ Tư pháp để sắp xếp đề mục vào chủ đề.
- Thông qua và đăng tải: Chính phủ quyết định thông qua kết quả pháp điển theo từng chủ đề trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp sắp xếp kết quả đã thông qua vào Bộ pháp điển và đăng tải công khai trên Trang thông tin điện tử pháp điển.
Cập nhật quy phạm pháp luật mới, đề mục mới và xử lý sai sót
Để bảo đảm tính thời sự và chính xác, Bộ pháp điển được cập nhật và duy trì liên tục:
- Cập nhật quy phạm mới: Khi có quy phạm pháp luật mới được ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, cơ quan thực hiện pháp điển phải xác định quy phạm tương ứng, thực hiện pháp điển quy phạm mới gửi Bộ Tư pháp để kiểm tra và cập nhật hoặc loại bỏ quy phạm hết hiệu lực tại thời điểm văn bản có hiệu lực thi hành.
- Cập nhật đề mục mới: Trường hợp xuất hiện quy phạm mới chưa thuộc đề mục hiện có, cơ quan có thẩm quyền đề xuất tên và vị trí đề mục gửi Bộ Tư pháp xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung và phân công thực hiện theo đúng trình tự quy định.
- Xử lý sai sót: Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện sai sót trong Bộ pháp điển có quyền gửi kiến nghị đến Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan thực hiện pháp điển để xem xét và xử lý sai sót.
- Duy trì và bản quyền: Bộ pháp điển được duy trì liên tục trên Trang thông tin điện tử pháp điển, cho phép người dân và doanh nghiệp sử dụng hoàn toàn miễn phí. Nhà nước giữ bản quyền đối với Bộ pháp điển này.
Trách nhiệm của các cơ quan và kinh phí thực hiện
Pháp lệnh phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện:
- Bộ Tư pháp: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về pháp điển; trình ban hành hoặc ban hành văn bản hướng dẫn; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; kiểm tra, đôn đốc; lập Đề án xây dựng Bộ pháp điển trình Thủ tướng; xây dựng và duy trì Trang thông tin điện tử pháp điển; định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ.
- Cơ quan thực hiện pháp điển: Thực hiện pháp điển theo phân công; bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của quy phạm pháp luật; kịp thời đề xuất và thực hiện pháp điển quy phạm mới, đề mục mới; bảo đảm các điều kiện cần thiết cho công tác pháp điển tại cơ quan mình.
- Kinh phí thực hiện: Do ngân sách nhà nước cấp, được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của các cơ quan thực hiện hoặc cấp theo Đề án xây dựng Bộ pháp điển. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể việc sử dụng nguồn kinh phí này.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật 2012 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| ỦY BAN THƯỜNG VỤ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Pháp lệnh số: 03/2012/UBTVQH13 | Hà Nội, ngày 16 tháng 04 năm 2012 |
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Căn cứ Điều 93 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12;
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.
Pháp lệnh này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp điển; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện pháp điển và các điều kiện bảo đảm cho công tác pháp điển.
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Pháp điển là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển.
2. Chủ đề là bộ phận cấu thành của Bộ pháp điển, trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội nhất định được xác định theo lĩnh vực.
3. Đề mục là bộ phận cấu thành chủ đề, trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định.
Điều 3. Nguyên tắc thực hiện pháp điển
1. Không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được pháp điển.
2. Theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật từ cao xuống thấp.
3. Cập nhật quy phạm pháp luật mới được ban hành vào Bộ pháp điển và loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển.
4. Tuân thủ thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện pháp điển.
Điều 4. Thẩm quyền thực hiện pháp điển
1. Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.
2. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình.
3. Văn phòng Quốc hội thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành điều chỉnh những vấn đề không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch nước ban hành không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Bộ pháp điển được xây dựng theo quy định tại Pháp lệnh này là Bộ pháp điển chính thức của Nhà nước, được sử dụng để tra cứu trong áp dụng và thực hiện pháp luật.
BỘ PHÁP ĐIỂN VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHÁP ĐIỂN
Điều 6. Cấu trúc của Bộ pháp điển
1. Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm.
2. Trong Bộ pháp điển, đề mục, phần, chương, mục, điều, khoản, điểm được đánh số thứ tự, trường hợp có liên quan đến nội dung khác của Bộ pháp điển thì phải được chỉ dẫn.
Các điều trong Bộ pháp điển được ký hiệu để phân biệt hình thức văn bản quy phạm pháp luật và được ghi chú để nhận biết điều của văn bản quy phạm pháp luật được pháp điển.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 7. Các chủ đề trong Bộ pháp điển
Các chủ đề trong Bộ pháp điển được quy định và sắp xếp như sau:
1. An ninh quốc gia;
2. Bảo hiểm;
3. Bưu chính, viễn thông;
4. Bổ trợ tư pháp;
5. Cán bộ, công chức, viên chức;
6. Chính sách xã hội;
7. Công nghiệp;
8. Dân số, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới;
9. Dân sự;
10. Dân tộc;
11. Đất đai;
12. Doanh nghiệp, hợp tác xã;
13. Giáo dục, đào tạo;
14. Giao thông, vận tải;
15. Hành chính tư pháp;
16. Hình sự;
17. Kế toán, kiểm toán;
18. Khiếu nại, tố cáo;
19. Khoa học, công nghệ;
20. Lao động;
21. Môi trường;
22. Ngân hàng, tiền tệ;
23. Ngoại giao, điều ước quốc tế;
24. Nông nghiệp, nông thôn;
25. Quốc phòng;
26. Tài chính;
27. Tài nguyên;
28. Tài sản công, nợ công, dự trữ nhà nước;
29. Thi đua, khen thưởng, các danh hiệu vinh dự nhà nước;
30. Thi hành án;
31. Thống kê;
32. Thông tin, báo chí, xuất bản;
33. Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác;
34. Thương mại, đầu tư, chứng khoán;
35. Tổ chức bộ máy nhà nước;
36. Tổ chức chính trị - xã hội, hội;
37. Tố tụng, và các phương thức giải quyết tranh chấp;
38. Tôn giáo, tín ngưỡng;
39. Trật tự an toàn xã hội;
40. Tương trợ tư pháp;
41. Văn hóa, thể thao, du lịch;
42. Văn thư, lưu trữ;
43. Xây dựng, nhà ở, đô thị;
44. Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật;
45. Y tế, dược.
1. Chính phủ quyết định bổ sung chủ đề mới theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
2. Thủ tướng Chính phủ quyết định lộ trình xây dựng Bộ pháp điển.
3. Căn cứ vào quy định tại
1. Việc pháp điển theo đề mục được thực hiện như sau:
Điều 10. Thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục
1. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập Hội đồng thẩm định để thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục.
Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch. Thành viên của Hội đồng thẩm định bao gồm đại diện lãnh đạo cơ quan thực hiện pháp điển, Ủy ban pháp luật của Quốc hội, cơ quan, tổ chức có liên quan và một số chuyên gia pháp luật.
2. Nội dung thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục tập trung vào các vấn đề sau đây:
a) Tính chính xác, đầy đủ của các quy phạm pháp luật trong đề mục;
b) Sự phù hợp của vị trí quy phạm pháp luật trong đề mục;
c) Sự tuân thủ trình tự, thủ tục pháp điển theo đề mục;
d) Các vấn đề khác liên quan đến nội dung của đề mục.
3. Kết luận của Hội đồng thẩm định phải được gửi cho cơ quan thực hiện pháp điển trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định.
Điều 11. Hoàn thiện, ký xác thực kết quả pháp điển theo đề mục và sắp xếp đề mục vào chủ đề
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kết luận của Hội đồng thẩm định, căn cứ vào kết luận này, cơ quan thực hiện pháp điển chỉnh lý, hoàn thiện kết quả pháp điển theo đề mục.
2. Thủ trưởng cơ quan thực hiện pháp điển ký xác thực kết quả pháp điển theo đề mục và gửi đến Bộ Tư pháp.
3. Bộ Tư pháp sắp xếp đề mục đã được pháp điển vào chủ đề.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 12. Thông qua kết quả pháp điển theo chủ đề và sắp xếp vào Bộ pháp điển
1. Chính phủ quyết định thông qua kết quả pháp điển theo từng chủ đề của Bộ pháp điển theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
2. Bộ Tư pháp sắp xếp kết quả pháp điển theo chủ đề đã được thông qua vào Bộ pháp điển và đăng tải trên Trang thông tin điện tử pháp điển.
Điều 13. Cập nhật quy phạm pháp luật mới, đề mục mới vào Bộ pháp điển
1. Việc cập nhật quy phạm pháp luật mới vào Bộ pháp điển được thực hiện như sau:
a) Trong trường hợp có quy phạm pháp luật mới được ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc có quy phạm pháp luật bị bãi bỏ thuộc đề mục đã có trong chủ đề thì cơ quan thực hiện pháp điển xác định quy phạm pháp luật tương ứng trong Bộ pháp điển, thực hiện pháp điển quy phạm pháp luật mới và gửi hồ sơ đến Bộ Tư pháp.
b) Bộ Tư pháp kiểm tra hồ sơ, cập nhật quy phạm pháp luật mới vào Bộ pháp điển hoặc loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển.
2. Việc cập nhật đề mục mới vào Bộ pháp điển được thực hiện như sau:
a) Trong trường hợp có quy phạm pháp luật mới được ban hành chưa thuộc đề mục đã có trong Bộ pháp điển, cơ quan được quy định tại
b) Trình tự, thủ tục pháp điển đối với đề mục mới được thực hiện theo quy định tại các điều 9, 10 và 11 của Pháp lệnh này.
3. Quy phạm pháp luật mới, đề mục mới phải được cập nhật vào Bộ pháp điển tại thời điểm có hiệu lực thi hành.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 14. Xử lý sai sót, duy trì Bộ pháp điển trên Trang thông tin điện tử pháp điển
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có sai sót trong Bộ pháp điển gửi kiến nghị đến Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan thực hiện pháp điển xem xét kiến nghị để xử lý sai sót.
2. Bộ pháp điển được duy trì liên tục trên Trang thông tin điện tử pháp điển và được sử dụng miễn phí. Nhà nước giữ bản quyền đối với Bộ pháp điển.
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN TRONG CÔNG TÁC PHÁP ĐIỂN VÀ VIỆC BẢO ĐẢM KINH PHÍ CHO CÔNG TÁC PHÁP ĐIỂN
Điều 15. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
1. Trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về pháp điển
2. Hướng dẫn việc thực hiện pháp điển; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác pháp điển.
3. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện pháp điển của các cơ quan thực hiện pháp điển.
4. Xử lý theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xử lý những vấn đề vướng mắc liên quan đến việc thực hiện pháp điển.
5. Lập Đề án xây dựng Bộ pháp điển trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
6. Xây dựng Trang thông tin điện tử pháp điển; duy trì thường xuyên Bộ pháp điển trên Trang thông tin điện tử pháp điển; quản lý, ban hành quy định về huy động nguồn lực xã hội trong việc xuất bản Bộ pháp điển bằng văn bản.
7. Định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ về công tác pháp điển.
Điều 16. Trách nhiệm của cơ quan thực hiện pháp điển
1. Thực hiện pháp điển theo đề mục được Thủ tướng Chính phủ phân công.
2. Bảo đảm tính chính xác, đầy đủ các quy phạm pháp luật được pháp điển trong đề mục.
3. Kịp thời đề xuất và thực hiện pháp điển quy phạm pháp luật mới, đề mục mới.
4. Bảo đảm các điều kiện để thực hiện pháp điển.
Điều 17. Kinh phí thực hiện công tác pháp điển
1. Kinh phí thực hiện công tác pháp điển do ngân sách nhà nước cấp, bao gồm:
a) Kinh phí thực hiện pháp điển, thẩm định, cập nhật quy phạm pháp luật mới, cập nhật đề mục mới, quản lý, duy trì Bộ pháp điển được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của các cơ quan thực hiện;
b) Kinh phí xây dựng Bộ pháp điển được cấp theo Đề án xây dựng Bộ pháp điển.
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
|
| TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- 4Nghị định 63/2013/NĐ-CP hướng dẫn Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
- 5Thông tư liên tịch 192/2013/TTLT-BTC-BTP Quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm công tác hợp nhất văn bản, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp ban hành
- 6Thông tư 13/2014/TT-BTP hướng dẫn thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật 2012
- Số hiệu: 03/2012/UBTVQH13
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 16/04/2012
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 375 đến số 376
- Ngày hiệu lực: 01/07/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
