Pháp lệnh đo lường năm 1999 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành (do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký) và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2000. Văn bản này quy định về đơn vị đo lường hợp pháp, chuẩn đo lường, kiểm định và hiệu chuẩn phương tiện đo, phép đo, hàng đóng gói sẵn theo định lượng, cũng như hoạt động sản xuất, buôn bán, xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện đo nhằm bảo đảm tính thống nhất, chính xác, trung thực và từng bước hiện đại hóa hoạt động đo lường tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh áp dụng đối với mọi cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân tham gia hoạt động đo lường hoặc các hoạt động khác có liên quan trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý đo lường, nghiêm cấm mọi hành vi gian lận trong hoạt động này. Mọi tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về đo lường.
Đơn vị đo lường hợp pháp và Chuẩn đo lường
- Đơn vị đo lường hợp pháp: Nhà nước Việt Nam công nhận Hệ đơn vị đo lường quốc tế (SI). Các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải sử dụng đơn vị đo lường hợp pháp trong hoạt động đo lường, trừ trường hợp đặc biệt được Chính phủ cho phép hoặc đối với hàng hóa xuất khẩu theo thỏa thuận giữa các bên liên quan.
- Chuẩn đo lường: Là phương tiện kỹ thuật để thể hiện đơn vị đo và làm chuẩn để xác định giá trị của phương tiện đo. Hệ thống chuẩn đo lường bao gồm chuẩn quốc gia (độ chính xác cao nhất, được Chính phủ phê duyệt và liên kết với chuẩn quốc tế) và các chuẩn có độ chính xác thấp hơn.
- Liên kết chuẩn: Các ngành, cơ sở nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh tự trang bị chuẩn đo lường cần thiết và liên kết với chuẩn quốc gia thông qua hoạt động hiệu chuẩn của các phòng hiệu chuẩn được công nhận.
Kiểm định phương tiện đo
- Đối tượng bắt buộc kiểm định: Phương tiện đo sử dụng cho mục đích định lượng hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, thanh toán; bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và môi trường; giám định tư pháp và phục vụ các hoạt động công vụ khác của Nhà nước.
- Chế độ kiểm định: Gồm kiểm định ban đầu (sau khi sản xuất hoặc nhập khẩu), kiểm định định kỳ (theo chu kỳ sử dụng) và kiểm định bất thường (sau khi sửa chữa, theo yêu cầu hoặc phục vụ thanh tra, giám định).
- Yêu cầu quản lý: Tổ chức, cá nhân sản xuất, sửa chữa, nhập khẩu, sử dụng phương tiện đo thuộc danh mục bắt buộc phải đăng ký kiểm định. Phương tiện đạt yêu cầu sẽ được dán tem, đóng dấu kiểm định hoặc cấp giấy chứng nhận kiểm định.
- Hành vi bị nghiêm cấm: Cấm sử dụng phương tiện đo thuộc diện bắt buộc kiểm định nếu không có dấu, tem, giấy chứng nhận kiểm định hoặc đã hết hiệu lực, bị sai hỏng. Cấm giả mạo hoặc sử dụng dấu, tem, giấy chứng nhận kiểm định để lừa đảo, gian dối.
Hiệu chuẩn phương tiện đo
- Khái niệm và áp dụng: Hiệu chuẩn là việc so sánh giá trị của phương tiện đo với chuẩn đo lường. Hoạt động này áp dụng cho phương tiện đo dùng làm chuẩn và phương tiện đo ngoài danh mục bắt buộc kiểm định.
- Phòng hiệu chuẩn: Việc hiệu chuẩn được thực hiện bởi các phòng hiệu chuẩn được tổ chức công nhận có thẩm quyền đánh giá và cấp phép. Nhà nước khuyến khích phát triển hoạt động hiệu chuẩn để phục vụ sản xuất, kinh doanh và nghiên cứu khoa học.
Phép đo và Hàng đóng gói sẵn theo định lượng
- Yêu cầu về phép đo: Các phép đo quan trọng liên quan đến thương mại, an toàn, sức khỏe, môi trường và công vụ phải sử dụng phương tiện đo đã kiểm định và phương pháp đo đúng quy định, đồng thời phải tạo điều kiện cho khách hàng hoặc người có trách nhiệm kiểm tra.
- Hàng đóng gói sẵn theo định lượng: Là hàng hóa được định lượng và đóng gói sẵn không có sự chứng kiến của khách hàng. Lượng hàng thực tế phải được ghi rõ trên bao bì và độ chênh lệch so với ghi nhãn không được vượt quá giới hạn cho phép do cơ quan quản lý quy định.
Sản xuất, buôn bán, xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện đo
- Phê duyệt mẫu: Tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu phương tiện đo thuộc danh mục phải kiểm định để buôn bán phải thực hiện theo mẫu đã được cơ quan quản lý nhà nước về đo lường phê duyệt.
- Điều kiện buôn bán và xuất khẩu: Chỉ được buôn bán phương tiện đo thuộc danh mục bắt buộc khi đã được kiểm định. Đối với phương tiện đo xuất khẩu, việc sản xuất được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên liên quan.
Quản lý nhà nước về đo lường
- Nội dung quản lý: Bao gồm xây dựng quy hoạch, kế hoạch, ban hành văn bản pháp luật; quản lý hệ thống chuẩn đo lường; tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, phê duyệt mẫu; nghiên cứu khoa học công nghệ; đào tạo nghiệp vụ; hợp tác quốc tế và thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Phân công trách nhiệm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đo lường. Các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp thực hiện quản lý trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Thanh tra chuyên ngành và Xử lý vi phạm
- Thanh tra chuyên ngành: Do cơ quan quản lý nhà nước về đo lường thực hiện. Thanh tra viên và đoàn thanh tra có quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, kiểm tra hiện trường, đình chỉ sử dụng/buôn bán phương tiện đo vi phạm, tạm dừng sản xuất/kiểm định trái phép, xử phạt hành chính hoặc niêm phong tang vật, chuyển hồ sơ hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm.
- Quyền của đối tượng thanh tra: Có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định thanh tra nhưng vẫn phải chấp hành quyết định trong thời gian chờ giải quyết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Xử lý vi phạm: Tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận, không kiểm định phương tiện đo, giả mạo dấu tem kiểm định hoặc vi phạm các quy định khác sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh đo lường năm 1999 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2000. Pháp lệnh này thay thế cho Pháp lệnh đo lường ban hành ngày 06 tháng 7 năm 1990. Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 16/1999/PL-UBTVQH10 | Hà Nội, ngày 06 tháng 10 năm 1999 |
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 16/1999/PL-UBTVQH10 NGÀY 06 THÁNG 10 NĂM 1999 VỀ ĐO LƯỜNG
Để đo lường được thống nhất và chính xác, nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân; nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá; sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, vật tư, năng lượng; đảm bảo an toàn; bảo vệ sức khoẻ và môi trường; đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước; tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu quốc tế;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 4 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1999;
Pháp lệnh này quy định về đo lường.
Đo lường là việc xác định giá trị của đại lượng cần đo.
Pháp lệnh này quy định về đơn vị đo lường hợp pháp và chuẩn đo lường; kiểm định và hiệu chuẩn phương tiện đo; phép đo và hàng đóng gói sẵn theo định lượng; sản xuất, buôn bán, xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện đo.
Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân) trong hoạt động đo lường hoặc các hoạt động khác có liên quan đến đo lường trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân thực hiện và giám sát việc thi hành pháp luật về đo lường.
ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG HỢP PHÁP VÀ CHUẨN ĐO LƯỜNG
Đơn vị đo lường hợp pháp là đơn vị đo lường được Nhà nước công nhận và cho phép sử dụng.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận Hệ đơn vị đo lường quốc tế (viết tắt theo thông lệ quốc tế là SI).
Chính phủ quy định đơn vị đo lường hợp pháp phù hợp với Hệ đơn vị đo lường quốc tế.
Đối với hàng hoá xuất khẩu có thể sử dụng đơn vị đo lường khác với đơn vị đo lường hợp pháp của Việt Nam theo sự thoả thuận giữa các bên liên quan.
Các chuẩn quốc gia được thiết lập phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân và xu hướng phát triển của khoa học đo lường trên thế giới.
Chính phủ quy định cơ quan chịu trách nhiệm duy trì, bảo quản và khai thác các chuẩn quốc gia.
Phương tiện đo là phương tiện kỹ thuật để xác định giá trị của đại lượng cần đo.
Kiểm định phương tiện đo (sau đây gọi là kiểm định) là việc xác định và chứng nhận đối với phương tiện đo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định do tổ chức có thẩm quyền hoặc được uỷ quyền kiểm định thực hiện.
Phương tiện đo sử dụng vào mục đích dưới đây thuộc diện phải kiểm định:
1- Định lượng hàng hoá, dịch vụ trong mua bán và thanh toán;
2- Đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ và môi trường;
3- Giám định tư pháp, phục vụ các hoạt động công vụ khác của Nhà nước.
Chế độ kiểm định bao gồm kiểm định ban đầu, kiểm định định kỳ, kiểm định bất thường.
1- Kiểm định ban đầu là kiểm định lần đầu đối với các phương tiện đo sau khi sản xuất hoặc nhập khẩu.
2- Kiểm định định kỳ là kiểm định theo chu kỳ đối với các phương tiện đo đang sử dụng.
3- Kiểm định bất thường là kiểm định đối với các phương tiện đo sau khi sửa chữa; theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân sử dụng; phục vụ việc thanh tra đo lường, giám định tư pháp hoặc các hoạt động công vụ khác của Nhà nước.
Thủ tục đăng ký kiểm định phương tiện đo do cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định.
1- Cấm sử dụng phương tiện đo thuộc danh mục phải kiểm định trong các trường hợp sau đây:
a) Không có dấu, tem kiểm định hoặc giấy chứng nhận kiểm định;
b) Dấu, tem kiểm định hoặc giấy chứng nhận kiểm định đã hết hiệu lực;
c) Phương tiện đo sai, hỏng, không còn đạt yêu cầu quy định.
2- Cấm giả mạo dấu, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định hoặc sử dụng dấu, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định với mục đích lừa đảo, gian dối.
Việc hiệu chuẩn phương tiện đo được thực hiện bởi phòng hiệu chuẩn.
Phòng hiệu chuẩn chịu trách nhiệm về kết quả hiệu chuẩn của mình.
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định tổ chức công nhận có thẩm quyền và các điều kiện, thủ tục công nhận phòng hiệu chuẩn.
PHÉP ĐO VÀ HÀNG ĐÓNG GÓI SẴN THEO ĐỊNH LƯỢNG
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định các phép đo và phương pháp đo quy định tại Điều này.
Nhà nước khuyến khích việc mua bán hàng hoá theo phương thức hàng đóng gói sẵn theo định lượng.
Tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng đóng gói sẵn theo định lượng chịu trách nhiệm đảm bảo hàng đóng gói sẵn đúng định lượng.
Lượng hàng hóa đóng gói sẵn theo định lượng phải được ghi rõ trên bao bì.
Chênh lệch giữa lượng hàng hoá thực tế và lượng hàng hoá ghi trên bao bì không được vượt quá giới hạn cho phép.
SẢN XUẤT, BUÔN BÁN, XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU PHƯƠNG TIỆN ĐO
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất phương tiện đo.
Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu phương tiện đo thuộc danh mục phải kiểm định để buôn bán phải theo mẫu phương tiện đo đã được cơ quan quản lý nhà nước về đo lường phê duyệt.
Cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quy định việc phê duyệt mẫu phương tiện đo.
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân xuất khẩu phương tiện đo.
Phương tiện đo xuất khẩu được sản xuất theo sự thoả thuận giữa các bên liên quan.
Nội dung quản lý nhà nước về đo lường bao gồm:
2- Tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về đo lường các cấp;
3- Quy định đơn vị đo lường hợp pháp; xây dựng và quản lý hệ thống chuẩn đo lường; quy định phép đo và phương pháp đo;
4- Tổ chức hoạt động kiểm định; tiến hành kiểm định và uỷ quyền kiểm định phương tiện đo;
5- Hướng dẫn, tổ chức và phát triển hoạt động hiệu chuẩn phương tiện đo; tổ chức việc công nhận các phòng hiệu chuẩn và chứng nhận mẫu chuẩn;
6- Tổ chức và quản lý việc phê duyệt mẫu phương tiện đo trong sản xuất và nhập khẩu phương tiện đo;
7- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực đo lường;
8- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ thuật về đo lường; tổ chức và quản lý việc chứng nhận kiểm định viên đo lường;
9- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về đo lường;
10- Tổ chức và quản lý việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đo lường;
11- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về đo lường; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm pháp luật về đo lường.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đo lường trong phạm vi cả nước.
Bộ khoa học, công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đo lường.
Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về đo lường thuộc Bộ khoa học, công nghệ và môi trường do Chính phủ quy định.
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đo lường.
Chính phủ quy định các loại lệ phí và phí liên quan đến hoạt động đo lường.
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH VỀ ĐO LƯỜNG
1- Việc thanh tra chuyên ngành về đo lường thuộc chức năng của cơ quan quản lý nhà nước về đo lường.
2- Tổ chức và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành về đo lường do Chính phủ quy định.
Việc thanh tra do Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thực hiện.
Trong quá trình thanh tra, Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có quyền:
1- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả lời những vấn đề cần thiết cho việc thanh tra; tiến hành các biện pháp kiểm tra kỹ thuật tại hiện trường;
2- Đình chỉ việc sử dụng hoặc buôn bán phương tiện đo không hợp pháp và hàng đóng gói sẵn theo định lượng không đạt yêu cầu về đo lường; tạm thời đình chỉ việc sản xuất, kiểm định phương tiện đo trái với quy định của pháp luật về đo lường và kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan quản lý nhà nước về đo lường;
3- Lập biên bản, xử phạt theo thẩm quyền hoặc niêm phong phương tiện đo không hợp pháp cùng với các tang vật khác và kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan quản lý nhà nước về đo lường; trường hợp phát hiện có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì chuyển hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Đoàn thanh tra, Thanh tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những kết luận và các biện pháp xử lý trong quá trình thanh tra.
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2000.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1Nghị định 126/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá
- 2Quyết định 22/2006/QĐ-BKHCN về việc phê duyệt mẫu phương tiện đo do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 3Nghị định 95/2007/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 126/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá.
- 4Hiến pháp năm 1992
- 5Nghị định 65/2001/NĐ-CP ban hành hệ thống đơn vị đo lường hợp pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- 6Nghị định 06/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Đo lường
- 7Quyết định 28/2002/QĐ-BKHCNMT phê duyệt mẫu phương tiện đo do Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành
- 8Quyết định 13/2007/QĐ-BKHCN ban hành “Danh mục phương tiện đo phải kiểm định” do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 9Nghị định 134/2007/NĐ-CP về đơn vị đo lường chính thức
- 10Thông tư 14/2011/TT-BKHCN sửa đổi, bãi bỏ Quy định phê duyệt mẫu phương tiện đo kèm theo Quyết định 22/2006/QĐ-BKHCN do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
Pháp lệnh đo lường năm 1999
- Số hiệu: 16/1999/PL-UBTVQH10
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 06/10/1999
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 45
- Ngày hiệu lực: 01/01/2000
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2012
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
