Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất về quản lý, xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê trên phạm vi cả nước, góp phần chủ động phòng, chống thiên tai, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Pháp lệnh áp dụng đối với tất cả các loại đê điều ngăn nước lũ, nước biển, các công trình phụ trợ (cống, kè) và mọi cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân cùng mọi cá nhân có nghĩa vụ tham gia xây dựng, bảo vệ đê điều trên lãnh thổ Việt Nam.
Khái niệm và phân loại đê điều
- Định nghĩa đê điều: Bao gồm các loại đê ngăn nước lũ, nước biển hiện có hoặc xây dựng mới theo quy hoạch được phê duyệt; các cống và công trình xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê liên quan đến an toàn đê; các loại kè được xây dựng để bảo vệ đê.
- Thống nhất quản lý: Nhà nước thực hiện quản lý thống nhất đối với toàn bộ hệ thống đê điều, không phân biệt nguồn vốn xây dựng.
- Phân cấp đê: Đê được phân thành các cấp khác nhau dựa trên tính chất và tầm quan trọng của từng tuyến đê. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định tiêu chuẩn cấp đê và phạm vi bảo vệ đê điều cụ thể.
Quy hoạch, xây dựng và tu bổ đê điều
- Nguyên tắc xây dựng: Việc xây dựng mới hoặc tu bổ đê, kè, cống phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch chung về ngăn nước lũ, nước biển đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời bảo đảm đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định.
- Huy động lao động: Ưu tiên sử dụng lao động công ích theo quy định của pháp luật để xây dựng, tu bổ đê điều trước mùa lũ, bão. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng Bộ trưởng có trách nhiệm cân đối, điều hòa quỹ ngày công lao động công ích hàng năm cho công tác này.
- Nguồn kinh phí: Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho việc xây dựng, tu bổ đê điều. Đồng thời, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tự nguyện đóng góp lao động, tiền của và tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào công tác này.
Các hành vi bị nghiêm cấm để bảo vệ an toàn đê điều
- Nghiêm cấm tự ý kích, chèn, đóng, mở cửa cống trái phép; cuốc, rẫy cỏ; chất đống rơm rạ, củi rác trên đê hoặc gây trở ngại cho việc kiểm tra đê và hộ đê.
- Nghiêm cấm khoan, đào, bới, lấy đất, đá, khai thác tài nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng và nạo vét luồng lạch trong phạm vi bảo vệ đê điều.
- Nghiêm cấm xây dựng mới hoặc mở rộng các công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều, cũng như các công trình ở lòng sông gây mất an toàn cho đê hoặc cản trở dòng thoát lũ.
- Nghiêm cấm sử dụng chất nổ phá gây nguy hại đến an toàn của đê điều.
- Nghiêm cấm sử dụng đê, kè, cống làm nơi neo đậu tàu thuyền, bè mảng; bốc dỡ, chất tải hàng hóa, vật liệu trái phép.
- Nghiêm cấm xe cơ giới đi trên những đoạn đê không kết hợp làm đường giao thông, trừ các loại xe ưu tiên làm nhiệm vụ khẩn cấp (xe hộ đê, cứu thương, cứu hỏa, xe quân sự, công an) nhưng không được vượt quá tải trọng cho phép của đê và cống dưới đê.
Quy định về sử dụng đất và các hoạt động trong phạm vi bảo vệ đê
- Cấp phép hoạt động đặc thù: Các hoạt động khai thác, xây dựng hoặc di chuyển phương tiện bị hạn chế chỉ được thực hiện khi có giấy phép của Bộ Thủy lợi hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
- Sử dụng đất hành lang đê: Mặt đê, mái đê và cơ đê chỉ được trồng cỏ chống xói mòn. Đất trong phạm vi bảo vệ đê chỉ được dùng để trồng cây chống sóng, lúa và cây ngắn ngày. Việc khai thác cây chống sóng phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
- Công trình ngoài phạm vi bảo vệ: Việc xây dựng các công trình nằm ngoài phạm vi bảo vệ nhưng có ảnh hưởng đến an toàn đê điều phải có sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi.
- Di tích lịch sử và công trình tồn tại từ trước: Việc bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trong phạm vi bảo vệ đê phải kết hợp hài hòa với an toàn đê điều. Hội đồng Bộ trưởng quy định việc xử lý đối với nhà cửa, công trình đã xây dựng trước ngày ban hành Pháp lệnh nằm trong phạm vi bảo vệ đê và thoát lũ.
- Quản lý biển báo và giấy phép: Bộ Thủy lợi quy định thống nhất mẫu các loại biển báo về đê điều; quản lý và phát hành giấy phép sử dụng đê điều trong phạm vi cả nước.
Công tác hộ đê, phân lũ và cứu hộ khẩn cấp
- Tính thường xuyên của công tác hộ đê: Công tác hộ đê phải được tiến hành thường xuyên trong mùa lũ, bão. Việc cứu hộ các công trình bảo vệ đê, cống, đập của hồ chứa nước lớn có nguy cơ gây lũ lụt đều được coi là cứu hộ đê.
- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp: UBND các cấp chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện hộ đê tại địa phương và hỗ trợ địa phương khác khi có lệnh. Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện, xã có nhiệm vụ cụ thể từ lập phương án, chỉ đạo, điều hành đến trực tiếp tổ chức thực hiện tại địa bàn.
- Biện pháp phân lũ: Phân lũ là biện pháp đặc biệt để hộ đê. Việc phân lũ ảnh hưởng từ hai tỉnh trở lên do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định. Phân lũ trong nội tỉnh do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định. Hội đồng Bộ trưởng quy định chính sách hỗ trợ vùng bị ngập lụt do phân lũ.
- Quyền hạn trong trường hợp khẩn cấp: Trong tình huống khẩn cấp, Chủ tịch UBND các cấp có quyền huy động nhân lực, trưng dụng vật tư, phương tiện, tài sản để cứu hộ đê và quyết định di dời dân cư để bảo đảm an toàn tính mạng.
Hệ thống quản lý nhà nước và lực lượng chuyên trách
- Hội đồng Bộ trưởng: Thực hiện quản lý nhà nước thống nhất đối với hệ thống đê điều cả nước, quyết định quy hoạch, tiêu chuẩn cấp đê, mức đầu tư và ban hành các chính sách liên quan.
- Bộ Thủy lợi: Chịu trách nhiệm quản lý kỹ thuật, lập và thực hiện quy hoạch đê điều, quy hoạch phân lũ; kiểm tra, hướng dẫn thực hiện các quy định kỹ thuật.
- Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão: Ban chỉ đạo Trung ương (do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lập) và Ban chỉ huy các cấp ở địa phương, các ngành có nhiệm vụ tổ chức, kiểm tra, thực hiện phương án phòng chống lụt bão, hộ đê và khắc phục hậu quả thiên tai.
- Lực lượng chuyên trách quản lý đê: Thuộc biên chế nhà nước, do UBND cấp tỉnh quản lý và sử dụng nhằm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về bảo vệ và quản lý đê điều theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và hiệu lực thi hành
- Khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê được khen thưởng về vật chất và tinh thần.
- Xử lý vi phạm: Mọi hành vi phá hoại, tự ý sử dụng đê điều trái phép hoặc vi phạm các quy định của Pháp lệnh sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
- Hiệu lực thi hành: Pháp lệnh Đê điều năm 1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 26-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 1989 |
VỀ ĐÊ ĐIỀU CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 26-LCT/HĐNN8 NGÀY 09/11/1989
Đê điều là công trình quan trọng được nhân dân ta xây dựng, giữ gìn, tu bổ qua nhiều thế hệ nhằm ngăn nước lũ, nước biển, bảo vệ tính mạng của nhân dân, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể và của cá nhân.
Để nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân trong việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng và hộ đê;
Căn cứ vào Điều 19 và Điều 100 của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định chế độ quản lý và sử dụng đê điều.
"Đê điều" nói trong Pháp lệnh này bao gồm:
1- Các loại đê ngăn nước lũ, nước biển hiện có hoặc xây dựng mới được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch;
2- Cống và các công trình xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê có liên quan đến an toàn của đê;
3- Các loại kè được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ đê.
Nhà nước thống nhất quản lý các loại đề điều được xây dựng bằng bất cứ nguồn vốn nào.
Điều 3
Đê được phân thành các cấp khác nhau tuỳ theo tính chất và tầm quan trọng của từng tuyến đê.
Hội đồng bộ trưởng quy định tiêu chuẩn cấp đê; phạm vi bảo vệ đê điều.
Nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại, gây tổn hại cho đê điều.
Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương cân đối, điều hoà quỹ ngày công lao động công ích hằng năm cho việc xây dựng, tu bổ đê điều trong địa phương mình.
Hội đồng bộ trưởng điều hoà quỹ ngày công lao động công ích hằng năm cho việc xây dựng, tu bổ đê điều trong cả nước.
Kinh phí xây dựng, tu bổ đê điều được Nhà nước ưu tiên đầu tư.
Hội đồng bộ trưởng quy định mức đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều cho các cấp đê khác nhau.
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp lao động, tiền của, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào việc xây dựng, tu bổ đê điều.
Các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ bảo vệ đê điều.
Người nào phát hiện hành vi gây tổn hại hoặc đe doạ đến an toàn của đê điều, những hư hại đê điều do thiên tai gây ra phải kịp thời ngăn chặn và báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc nhân viên quản lý đê.
Trách nhiệm bảo dưỡng, sửa chữa mặt đê kết hợp làm đường giao thông do cơ quan quản lý đoạn đường đó đảm nhiệm và phải theo tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ đê điều.
Mặt đê, mái đê và cơ đê chỉ được trồng cỏ chống xói mòn.
Đất trong phạm vi bảo vệ đê chỉ được sử dụng trồng cây chống sóng, lúa và cây ngắn ngày.
Việc khai thác cây chống sóng phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Hội đồng bộ trưởng quy định việc xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác đã xây dựng trước ngày ban hành Pháp lệnh này trong phạm vi bảo vệ đê điều và thoát lũ của lòng sông.
Việc cứu hộ các công trình bảo vệ đê điều, công trình liên quan đến an toàn của đê, cống, đập của các hồ chứa nước lớn có nguy cơ gây lũ, lụt đều được coi như cứu hộ đê.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các phương án hộ đê trong địa phương mình.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm lập và thực hiện các phương án hộ đê phù hợp với nhiệm vụ và hiện trạng đê điều trong địa phương mình.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã và đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện phương án hộ đê trong địa phương mình.
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có công trình chuyên dùng nói tại
Việc phân lũ có ảnh hưởng tới 2 tỉnh trở lên do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quyết định.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương quyết định việc phân lũ trong phạm vi địa phương mình.
Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp ở địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp lập ra, có nhiệm vụ tổ chức, kiểm tra, thực hiện các phương án phòng chống lụt, bão, chỉ đạo công tác hộ đê và xử lý các hậu quả do lũ, bão gây ra trong địa phương mình.
Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão của ngành do Thủ trưởng ngành lập ra, có nhiệm vụ thực hiện việc phòng chống lụt, bão của ngành.
Hội đồng bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng chuyên trách quản lý đê.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Hiến pháp năm 1980
- 2Nghị định 168-HĐBT năm 1990 quy định về tổ chức, nhiệm vụ của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương và Ban chỉ huy phòng chống lụt bão các cấp và các ngành do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Quyết định 398-HĐBT năm 1990 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đội chuyên trách quản lý đê điều do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Nghị định 429-HĐBT năm 1990 Hướng dẫn Pháp lệnh về Đê điều do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Quyết định 93/1999/QĐ-TTG về chế độ bồi dưỡng đối với kiểm soát viên đê điều tham gia trực tiếp xử lý sự cố khi có bão động lụt, bão do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 26-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 09/11/1989
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 22
- Ngày hiệu lực: 16/11/1989
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
