Pháp lệnh về Tài nguyên Khoáng sản số 22-LCT/HDNN8 được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 28 tháng 7 năm 1989, do Chủ tịch Võ Chí Công ký thực hiện. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý, bảo vệ, điều tra địa chất và khai thác tài nguyên khoáng sản tại Việt Nam trong giai đoạn đầu đổi mới đất nước.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu toàn bộ nội dung cốt lõi của Pháp lệnh này:
- Các khái niệm và thuật ngữ cơ bản (Điều 1)- Tài nguyên khoáng sản: Là các vật chất tự nhiên ở thể rắn, lỏng, khí nằm trong lòng đất hoặc tại bãi thải công nghiệp mỏ, có khả năng khai thác và sử dụng ở hiện tại hoặc tương lai.
- Mỏ khoáng sản: Là nơi tích tụ tài nguyên khoáng sản đạt các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật để tiến hành khai thác.
- Điều tra địa chất: Gồm các hoạt động nghiên cứu địa chất lòng đất, tìm kiếm và thăm dò tài nguyên khoáng sản.
- Khai thác mỏ: Hoạt động thu hồi tài nguyên khoáng sản nhằm sản xuất nguyên liệu, nhiên liệu, kim loại, nước dưới đất, nước khoáng, nước nóng phục vụ các nhu cầu khác nhau.
- Khu vực khai thác mỏ: Phần diện tích đất và lòng đất có ranh giới xác định theo bề mặt và chiều sâu được Nhà nước giao hoặc cấp phép khai thác.
- Tài nguyên khoáng sản chưa khai thác: Là tài nguyên chưa được điều tra địa chất hoặc đã điều tra nhưng chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép khai thác.
- Sở hữu toàn dân: Toàn bộ tài nguyên khoáng sản tại đất liền, thềm lục địa, hải đảo và vùng biển Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.
- Khuyến khích đầu tư trong nước: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vốn, lao động, khoa học - kỹ thuật vào điều tra địa chất, khai thác và bảo vệ khoáng sản.
- Thu hút đầu tư nước ngoài: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào lĩnh vực địa chất, khai thác, chế biến khoáng sản theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Quyền lợi của nhà đầu tư: Tổ chức, cá nhân đầu tư thăm dò có kết quả sẽ được ưu tiên khai thác mỏ. Người khai thác được bảo đảm các quyền hợp pháp như liên doanh, tiêu thụ sản phẩm, thừa kế quyền khai thác, chuyển nhượng hoặc bán các công trình đã đầu tư.
- Nghĩa vụ chung: Tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm an toàn mỏ và nộp thuế, lệ phí đầy đủ. Nghiêm cấm mọi hoạt động điều tra, khai thác trái phép khi chưa được cấp phép.
- Nội dung quản lý nhà nước: Bao gồm lập quy hoạch; quy định chế độ bảo vệ; giao, thu hồi khu vực khai thác; đăng ký nhiệm vụ địa chất; thống kê trữ lượng; thanh tra và giải quyết tranh chấp.
- Phân cấp quản lý: Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý toàn quốc. Các Bộ chuyên ngành và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý theo sự phân cấp về quy mô, tính chất và tầm quan trọng của từng loại khoáng sản.
- Trách nhiệm của cộng đồng: Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có nghĩa vụ bảo vệ khoáng sản và môi trường. Nhà nước bảo đảm lợi ích của người dân địa phương nơi có mỏ khai thác.
- Điều kiện tiến hành: Chỉ được thực hiện khi có giấy phép hoặc quyết định phê duyệt phương án của cơ quan có thẩm quyền và phải đăng ký nhiệm vụ trước khi thi công.
- Nghĩa vụ khi thi công: Xác định rõ mục tiêu, phương pháp khoa học; bảo đảm độ tin cậy về trữ lượng khoáng sản chính và các thành phần có ích đi kèm; áp dụng công nghệ bảo vệ môi trường; bồi thường thiệt hại gây ra trong quá trình điều tra.
- Trách nhiệm khi kết thúc: Bảo quản các công trình trắc địa, địa chất cần thiết; thanh lý các công trình khác để bảo đảm an toàn; nộp báo cáo địa chất, mẫu vật vào lưu trữ Nhà nước và trình duyệt trữ lượng theo quy định.
- Căn cứ giao mỏ: Dựa trên quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; kết quả thăm dò trữ lượng; luận chứng kinh tế - kỹ thuật; năng lực tài chính, kỹ thuật của chủ đầu tư; yêu cầu bảo vệ môi trường, di tích lịch sử và an ninh quốc phòng.
- Thẩm quyền cấp phép: Thuộc về Hội đồng Bộ trưởng, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo sự phân cấp cụ thể. Việc giao đất khai thác mỏ phải tuân thủ Luật Đất đai.
- Yêu cầu thiết kế mỏ: Phải bảo đảm thu hồi tối đa khoáng sản chính và các thành phần đi kèm; sử dụng hợp lý đất bóc, đá thải; có biện pháp an toàn mỏ, bảo vệ môi trường và khôi phục đất đai sau khai thác.
- Nghĩa vụ của chủ mỏ: Khai thác đúng thiết kế; thực hiện công tác trắc địa, địa chất mỏ; nộp thuế tài nguyên, lệ phí và hoàn trả chi phí thăm dò do Nhà nước đã đầu tư trước đó; bồi thường thiệt hại và phục hồi môi trường.
- Quyền lợi của chủ mỏ: Được sử dụng khu vực mỏ theo giấy phép; tự do lưu thông sản phẩm hợp pháp; được xét miễn, giảm thuế tài nguyên khi gặp rủi ro địa chất; được đền bù thiệt hại hoặc giao khu vực khác nếu mỏ bị thu hồi vì nhu cầu quốc phòng, công cộng.
- Đóng cửa mỏ: Khi dừng khai thác hoặc thanh lý mỏ, phải thực hiện các biện pháp an toàn, bảo quản tài liệu địa chất và bảo vệ tài nguyên chưa khai thác còn lại.
- Không tiến hành xây dựng hoặc khai thác mỏ sau 1 đến 2 năm kể từ ngày được giao mỏ mà không có lý do chính đáng được chấp thuận.
- Hết thời hạn khai thác ghi trong giấy phép mà không được gia hạn.
- Tổ chức khai thác bị giải thể hoặc cá nhân chủ mỏ bị chết mà không có người thừa kế hợp pháp, hoặc không đủ năng lực tiếp tục khai thác.
- Quyết định giao mỏ hoặc cấp phép khai thác được ban hành không đúng thẩm quyền.
- Khu vực khai thác mỏ cần được thu hồi để sử dụng cho các nhu cầu khác của Nhà nước hoặc xã hội theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
- Chủ mỏ vi phạm nghiêm trọng các quy định về quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường.
- Mọi công dân và tổ chức khi phát hiện khoáng sản phải báo ngay cho cơ quan chức năng hoặc chính quyền địa phương.
- Cơ quan quản lý nhà nước tiến hành khoanh định các khu vực khoáng sản cần bảo vệ. Việc xây dựng các công trình cố định, khu dân cư, thủy lợi tại các khu vực này phải có sự thỏa thuận của cơ quan quản lý khoáng sản.
- Các thành tạo địa chất đặc biệt, tập hợp cổ sinh hiếm và các đối tượng lòng đất có giá trị khoa học cao cũng được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Pháp lệnh.
- Cơ quan thực hiện: Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trên phạm vi cả nước.
- Nhiệm vụ thanh tra: Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên trong cả hai giai đoạn điều tra địa chất và khai thác mỏ.
- Quyền hạn của thanh tra: Yêu cầu cung cấp tài liệu, kiểm tra hiện trường; đình chỉ tạm thời các hoạt động có nguy cơ gây tai nạn hoặc tổn thất lớn tài nguyên; xử phạt hành chính hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm.
- Vai trò của địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp giám sát việc thi hành pháp luật khoáng sản tại địa phương; có quyền đình chỉ các hoạt động điều tra, khai thác không có giấy phép.
- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
- Cơ quan quản lý nhà nước về điều tra địa chất giải quyết tranh chấp về quyền điều tra địa chất.
- Cơ quan có thẩm quyền giao mỏ giải quyết tranh chấp về quyền khai thác mỏ đối với loại khoáng sản đó.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết các tranh chấp giữa quyền hoạt động khoáng sản với việc bảo vệ tài nguyên và các lĩnh vực khác thuộc địa phương.
- Các bên có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên trực tiếp nếu không đồng ý với quyết định giải quyết ban đầu. Tranh chấp có yếu tố nước ngoài được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.
- Khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có thành tích phát hiện khoáng sản, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên được khen thưởng về vật chất và tinh thần.
- Xử lý vi phạm: Người có hành vi khai thác trái phép, gây tổn thất khoáng sản vượt định mức, cản trở hoạt động khoáng sản hợp pháp hoặc vi phạm các điều khoản khác của Pháp lệnh sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 22-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 1989 |
PHÁP LỆNH
CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 22-LCT/HĐNN8 NGÀY 28/07/1989 VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
Tài nguyên khoáng sản là tài sản quốc gia vô cùng quý giá phải được bảo vệ, sử dụng hợp lý nhằm bảo đảm nhu cầu nguyên liệu khoáng trước mắt và lâu dài của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 36 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định việc quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong các lĩnh vực điều tra địa chất, khai thác mỏ và bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác.
Trong Pháp lệnh này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1- "Tài nguyên khoáng sản" là những vật chất tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí còn trong lòng đất, kể cả ở bãi thải của công nghiệp mỏ, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác, sử dụng.
2- "Mỏ" hoặc "mỏ khoáng sản" là tích tụ tài nguyên khoáng sản có số lượng và chất lượng khoáng sản đạt chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật khai thác mỏ.
3- "Điều tra địa chất" là những hoạt động nghiên cứu địa chất lòng đất và tìm kiếm, thăm dò tài nguyên khoáng sản.
4- "Khai thác mỏ" là những hoạt động để lấy tài nguyên khoáng sản ở mỏ nhằm sản xuất nguyên liệu khoáng, nhiên liệu khoáng, kim loại tự sinh, nước dưới đất, nước khoáng, nước nóng (gọi chung là nguyên liệu khoáng) cho các nhu cầu sử dụng khác nhau.
5- "Khu vực khai thác mỏ" là một phần hoặc toàn bộ mỏ khoáng sản có ranh giới theo bề mặt và theo chiều sâu được xác định trong quyết định giao khu vực khai thác mỏ hoặc giấy phép khai thác tài nguyên khoáng sản.
6- "Tài nguyên khoáng sản chưa khai thác" là tài nguyên khoáng sản chưa được điều tra địa chất hoặc đã được điều tra địa chất mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa cho phép khai thác theo quy định của Pháp lệnh này.
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vốn, kỹ thuật vào công tác điều tra địa chất, khai thác mỏ, chế biến nguyên liệu khoáng ở Việt Nam theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Pháp lệnh này.
Nhà nước bảo đảm cho tổ chức, cá nhân khai thác mỏ được hưởng những quyền lợi hợp pháp ở khu vực khai thác mỏ được giao, kể cả quyền liên doanh thăm dò, khai thác, tiêu thụ sản phẩm, thừa kế quyền khai thác, chuyển, nhượng, bán các công trình đã đầu tư xây dựng ở khu vực khai thác mỏ theo quy định của pháp luật.
Quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản bao gồm:
1- Lập quy hoạch và kế hoạch công tác điều tra địa chất, khai thác mỏ và bảo vệ tài nguyên khoáng sản;
2- Quy định chế độ quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong điều tra địa chất, khai thác mỏ và bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác;
3- Giao và thu hồi khu vực khai thác mỏ; cho phép và đình chỉ việc khai thác tài nguyên khoáng sản, điều tra địa chất, sử dụng khu vực đất đai, lòng đất có tài nguyên khoáng sản;
4- Đăng ký nhiệm vụ điều tra địa chất, khu vực và công trình khai thác mỏ, khu vực lòng đất phải bảo vệ; lập danh bạ mỏ và biểu hiện khoáng sản; thống kê trữ lượng tài nguyên khoáng sản; lưu trữ tài liệu về khai thác mỏ và mẫu vật địa chất;
5- Thanh tra Nhà nước về tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường có liên quan;
6- Giải quyết tranh chấp về quyền điều tra địa chất, khai thác mỏ, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và xử lý các vi phạm pháp luật về tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường có liên quan.
Hội đồng bộ trưởng thống nhất quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản.
Các cơ quan Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm xem xét đầy đủ các kiến nghị của các tổ chức xã hội và cá nhân trong việc thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và môi trường có liên quan.
Nhà nước bảo đảm lợi ích của nhân dân địa phương tại nơi có mỏ được khai thác.
Khi lập và thi công các phương án điều tra địa chất, tổ chức, cá nhân điều tra địa chất có nghĩa vụ:
1- Xác định rõ mục tiêu, nội dung, mức độ, phạm vi và phương pháp công tác có căn cứ khoa học, bảo đảm chất lượng và hiệu quả thiết thực;
2- Bảo đảm độ tin cậy về số lượng, chất lượng của trữ lượng khoáng sản chính, các khoáng sản và thành phần có ích đi kèm cũng như các điều kiện kinh tế, kỹ thuật về khai thác mỏ theo quy định của Nhà nước về giai đoạn và mức độ tìm kiếm, thăm dò;
3- Sử dụng các phương pháp kỹ thuật, công nghệ bảo vệ được tài nguyên khoáng sản và môi trường có liên quan, bảo đảm an toàn;
4- Thực hiện việc khấu trừ, thống kê trữ lượng khoáng sản, đăng ký và lập danh bạ các mỏ, các biểu hiện khoáng sản;
5- Nộp lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;
6- Bồi thường thiệt hại do việc điều tra địa chất gây ra.
1- Thực hiện việc bảo quản các công trình trắc địa, địa chất còn cần sử dụng, thanh lý các công trình địa chất để bảo đảm an toàn và bảo vệ tài nguyên khoáng sản;
2- Lập hồ sơ tài liệu, báo cáo địa chất, mẫu vật địa chất và nộp lưu trữ Nhà nước theo quy định của pháp luật;
1- Chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch khai thác mỏ của Nhà nước;
2- Kết quả điều tra địa chất và trữ lượng tài nguyên khoáng sản ở khu vực xin khai thác;
3- Luận chứng kinh tế - kỹ thuật khai thác bảo đảm tài nguyên khoáng sản của mỏ được khai thác đầy đủ, sử dụng hợp lý;
4- Điều kiện tài chính, kinh tế, kỹ thuật, trình độ chuyên môn về địa chất, khai thác mỏ và năng lực quản lý của tổ chức, cá nhân xin khai thác, hợp đồng khai thác mỏ, đã ký kết;
5- Yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh, bảo đảm an ninh - quốc phòng;
6- Quy định của Nhà nước về kỹ thuật và an toàn trong khai thác mỏ và chế biến nguyên liệu khoáng.
Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể việc phân cấp giao khu vực khai thác mỏ hoặc cho phép khai thác tài nguyên khoáng sản theo nguyên tắc bảo đảm quyền quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước trung ương về tài nguyên khoáng sản, nhất là những khoáng sản và mỏ quan trọng đối với cả nước hoặc đối với vùng kinh tế, đồng thời bảo đảm phát huy thế mạnh, tính năng động, tự chủ; phù hợp với quy mô phát triển kinh tế địa phương và khả năng quản lý của chính quyền địa phương.
1- Bố trí hợp lý các công trình trên mặt, cũng như các công trình ngầm bảo đảm thu hồi tối đa trữ lượng khoáng sản và an toàn mỏ;
2- Phương pháp kỹ thuật, hệ thống, công nghệ và tiến độ khai thác, công nghệ chế biến nguyên liệu khoáng bảo đảm khai thác tối đa, sử dụng tổng hợp cả khoáng sản chính, các khoáng sản và thành phần có ích đi kèm;
3- Sử dụng hợp lý đất bóc, đá thải; thống kê, bảo quản các khoáng sản hoặc đất đá chứa thành phần có ích buộc phải khai thác đồng thời với khoáng sản chính nhưng chưa sử dụng được;
4- Công tác địa chất khai thác và trắc địa mỏ phải làm trong quá trình xây dựng mỏ và khai thác;
5- Các biện pháp bảo đảm an toàn mỏ, bảo vệ môi trường có liên quan; khôi phục khả năng sử dụng hợp lý đất đai sau khi khai thác xong.
Tổ chức, cá nhân khai thác mỏ có các nghĩa vụ sau đây;
1- Tuân theo quyết định giao khu vực khai thác mỏ, thiết kế, sơ đồ khai thác, chế biến nguyên liệu khoáng đã được phê duyệt, các quy tắc an toàn về mỏ và bảo vệ môi trường có liên quan. Khi thay đổi thiết kế khai thác hoặc sơ đồ chế biến nguyên liệu khoáng làm tăng mức tổn thất tài nguyên khoáng sản đã được phê duyệt phải được cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản cho phép;
2- Thực hiện công tác trắc địa mỏ, địa chất khai thác; tính tổn thất thực tế, khấu trừ, thống kê, cân đối trữ lượng khoáng sản theo quy định của Nhà nước;
3- Thực hiện các biện pháp làm giảm tổn thất định mức, tận thu khoáng sản phát hiện được thêm trong khu vực khai thác mỏ được giao; ngăn ngừa việc tuỳ tiện khai thác lựa chọn khoáng sản chất lượng cao, bỏ lại những bộ phận trữ lượng khoáng sản trong bảng cân đối; xây dựng công trình cố định hoặc đổ đất đá thải lên khu vực có tài nguyên khoáng sản chưa khai thác;
4- Nộp thuế tài nguyên, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; hoàn lại tiền chi phí tìm kiếm, thăm dò mỏ đã được Nhà nước hoặc chủ đầu tư khác cấp trước;
5- Bồi thường thiệt hại do việc khai thác mỏ gây ra; phục hồi lại khả năng sử dụng hợp lý đất đai sau khi kết thúc khai thác mỏ.
Tổ chức, cá nhân khai thác mỏ có những quyền lợi sau đây:
1- Được sử dụng khu vực khai thác mỏ để tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản theo quyết định giao khu vực khai thác mỏ của Nhà nước về không gian, thời gian, số lượng và loại tài nguyên khoáng sản;
2- Được chuyển, nhượng, bán hoặc sử dụng sản phẩm khai thác mỏ của mình theo quy định của Nhà nước về việc lưu thông loại sản phẩm đó sau khi đã nộp thuế tài nguyên và làm các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;
3- Được xét giảm hoặc miễn thuế tài nguyên theo quy định của pháp luật khi gặp rủi ro về địa chất hoặc do áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật khai thác sử dụng được khoáng sản và thành phần có ích đi kèm;
4- Được thừa kế quyền khai thác, chuyển, nhượng, bán những công trình do mình đầu tư xây dựng để khai thác mỏ theo quy định của pháp luật;
5- Được đến bù thiệt hại thực tế và nếu có yêu cầu thì được giao khu vực khai thác mỏ khác trong trường hợp đặc biệt khu vực khai thác mỏ đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà nước hoặc xã hội;
6- Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ về kỹ thuật, công nghệ thăm dò, khai thác, chế biến nguyên liệu khoáng;
7- Được pháp luật bảo vệ khi bị tổ chức, cá nhân khác xâm phạm quyền sử dụng hợp pháp khu vực khai thác mỏ được giao.
Khu vực khai thác mỏ bị thu hồi, hoặc đình chỉ khai thác trong các trường hợp sau đây:
1- Sau một đến hai năm tuỳ theo quy mô khai thác, kể từ ngày có quyết định giao khu vực khai thác, công việc xây dựng hoặc khai thác mỏ chưa được thực hiện mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;
2- Thời hạn được phép khai thác đã hết mà không được cơ quan có thẩm quyền gia hạn;
3- Tổ chức khai thác mỏ bị giải thể hoặc cá nhân là chủ giấy phép khai thác mỏ bị chết mà không có người được thừa kế quyền khai thác mỏ theo quy định của pháp luật; không đủ khả năng, điều kiện để tiếp tục khai thác hoặc cố ý trì hoãn việc khai thác;
4- Quyết định giao khu vực khai thác mỏ hoặc cho phép khai thác không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 17 của Pháp lệnh này;
5- Cần thiết sử dụng đất đai ở khu vực khai thác mỏ cho nhu cầu khác của Nhà nước hoặc xã hội theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng;
6- Tổ chức, cá nhân khai thác mỏ vi phạm nghiêm trọng chế độ quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và môi trường có liên quan.
Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao khu vực khai thác mỏ và cho phép khai thác loại khoáng sản nào thì có thẩm quyền quyết định thu hồi khu vực khai thác mỏ và đình chỉ khai thác loại khoáng sản đó.
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN CHƯA KHAI THÁC
Cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm áp dụng các biện pháp đồng bộ để bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, sử dụng hợp lý đất đai và bảo vệ môi trường có liên quan.
Việc quy hoạch, thiết kế xây dựng các khu dân cư tập trung, công trình công nghiệp, thuỷ lợi, công trình cố định khác ở những khu vực có tài nguyên khoáng sản phải được sự thoả thuận của cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản.
THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
Nhiệm vụ thanh tra Nhà nước về tài nguyên khoáng sản bao gồm:
1- Thanh tra việc chấp hành chế độ quản lý và bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong điều tra địa chất;
2- Thanh tra việc chấp hành chế độ quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong khai thác mỏ và bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác.
Cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản có quyền:
1- Lập đoàn thanh tra hoặc giao trách nhiệm cho thanh tra viên tiến hành thanh tra Nhà nước về tài nguyên khoáng sản;
2- Ra quyết định buộc các tổ chức, cá nhân phải thực hiện những biện pháp để ngăn ngừa và chấm dứt các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên khoáng sản;
3- Đình chỉ việc điều tra địa chất, khai thác mỏ và việc làm khác trái pháp luật về tài nguyên khoáng sản;
4- Xử phạt theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường có liên quan.
1- Yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả lời về những vấn đề cần thiết cho việc thanh tra, tiến hành các biện pháp kiểm tra kỹ thuật tại hiện trường;
2- Tạm thời đình chỉ công tác điều tra địa chất, khai thác mỏ và việc làm khác vi phạm pháp luật có nguy cơ rõ rệt gây tai nạn nguy hiểm hoặc tổn thất lớn về tài nguyên khoáng sản;
3- Lập biên bản, xử phạt theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về tài nguyên khoáng sản hoặc bảo vệ môi trường có liên quan.
Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền đình chỉ việc điều tra địa chất, khai thác tài nguyên khoáng sản không có giấy phép theo quy định của Pháp lệnh này.
1- Cơ quan quản lý Nhà nước về điều tra địa chất giải quyết tranh chấp về quyền điều tra địa chất.
2- Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao khu vực khai thác mỏ và cho phép khai thác loại khoáng sản nào thì có trách nhiệm giải quyết tranh chấp về quyền khai thác mỏ và loại khoáng sản đó.
3- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương giải quyết những tranh chấp giữa việc thực hiện quyền điều tra địa chất, khai thác tài nguyên khoáng sản với việc bảo vệ tài nguyên và lĩnh vực khác thuộc phạm vi địa phương mình.
4- Nếu đương sự không đồng ý với quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp thì có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan giải quyết tranh chấp. Quyết định của cơ quan cấp trên trực tiếp đó có hiệu lực thi hành.
5- Tranh chấp về quyền điều tra địa chất, khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam mà một hoặc cả hai bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài được giải quyết theo pháp luật của Việt Nam, trừ trường hợp hiệp định ký kết giữa Việt Nam với nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế có quy định khác.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Những quy định trước đây trái với pháp lệnh này đều bãi bỏ.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
Ordinance No. 22-LCT/HDNN8 of July 28, 1989 on mineral resources
- Số hiệu: 22-LCT/HDNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 28/07/1989
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/08/1989
- Ngày hết hiệu lực: 01/09/1996
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
