TỔNG QUAN VỀ PHÁP LỆNH NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH NĂM 1999
Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích số 15/1999/PL-UBTVQH được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 3 tháng 9 năm 1999 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2000. Văn bản này thay thế Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích ngày 10 tháng 11 năm 1988, nhằm thiết lập một hệ thống quy định hoàn chỉnh, công bằng và hiệu quả hơn trong việc huy động sức đóng góp của công dân phục vụ lợi ích công cộng và ứng phó với các tình huống khẩn cấp thiên tai, dịch bệnh.
1. Nguyên tắc chung và hình thức huy động nghĩa vụ lao động công ích
Pháp lệnh định nghĩa rõ ràng về bản chất và thiết lập các nguyên tắc cốt lõi cho việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích:
- Khái niệm: Nghĩa vụ lao động công ích là trách nhiệm pháp lý của công dân trong việc đóng góp ngày công lao động để thực hiện các công việc vì lợi ích chung của cộng đồng.
- Phân loại: Gồm hai hình thức chính là nghĩa vụ lao động công ích hằng năm và nghĩa vụ lao động công ích trong các trường hợp cấp thiết (thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh).
- Nguyên tắc huy động: Việc huy động phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo kế hoạch, đúng mục đích, bảo đảm công bằng, tiết kiệm và đạt hiệu quả thiết thực. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi huy động và sử dụng lao động nghĩa vụ công ích trái với quy định của Pháp lệnh này.
- Hình thức quyết định: Việc huy động phải được thực hiện bằng văn bản hành chính. Trong trường hợp khẩn cấp do thiên tai, dịch bệnh, người có thẩm quyền được phép huy động trực tiếp bằng lời nói, nhưng chậm nhất sau 24 giờ phải hoàn thiện quyết định huy động bằng văn bản.
2. Quy định chi tiết về nghĩa vụ lao động công ích hằng năm
Nghĩa vụ lao động công ích hằng năm được quy định chặt chẽ về độ tuổi, thời gian, mục đích sử dụng cũng như các trường hợp miễn, tạm miễn:
- Độ tuổi và thời gian thực hiện: Áp dụng đối với công dân Việt Nam, nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 35 tuổi. Số ngày công nghĩa vụ lao động công ích hằng năm của mỗi công dân là 10 ngày.
- Mục đích sử dụng ngày công: Chỉ được dùng để thực hiện các công trình công ích tại địa phương không vì mục đích kinh doanh, bao gồm: xây dựng, tu bổ đường giao thông; xây dựng, tu bổ công trình thủy lợi (riêng đê, kè thực hiện theo luật phòng, chống lụt, bão); xây dựng, tu bổ trạm y tế, nhà trẻ, trường học, công trình vui chơi giải trí; xây dựng, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm và các công trình công ích xã hội khác.
- Đối tượng được miễn thực hiện hằng năm: Bao gồm cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an nhân dân; công nhân, công chức quốc phòng và công an làm việc tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc thuộc đội sửa chữa lưu động chuyên nghiệp; quân nhân xuất ngũ ngạch dự bị hạng một; thương binh, bệnh binh; thân nhân liệt sĩ (cha, mẹ, vợ, chồng, người có công nuôi dưỡng); chức sắc tôn giáo chuyên nghiệp; người mắc bệnh tâm thần, động kinh hoặc dị tật thể chất mất khả năng lao động; người bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên.
- Đối tượng được tạm miễn thực hiện: Người đang điều trị, điều dưỡng hoặc là lao động duy nhất chăm sóc thân nhân ốm nặng; thân nhân của quân nhân tại ngũ có hoàn cảnh khó khăn; phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng (hoặc người chồng đơn thân nuôi con dưới 36 tháng); người phục vụ thương bệnh binh nặng hoặc người tàn tật suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt; cán bộ công chức biệt phái vùng khó khăn; thanh niên xung phong; lao động duy nhất của hộ đói nghèo; công an xã, trưởng thôn; học sinh, sinh viên, học viên hệ tập trung dài hạn; người đang học tập, lao động ở nước ngoài.
- Khấu trừ thời gian: Thời gian quân nhân dự bị hạng hai và dân quân tự vệ tập trung huấn luyện, hội thao, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu được trừ trực tiếp vào thời gian thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm.
3. Cơ chế thực hiện thay thế, quản lý và phân bổ quỹ ngày công
Pháp lệnh cho phép linh hoạt trong phương thức thực hiện nghĩa vụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân:
- Cơ chế làm thay hoặc đóng tiền: Người có nghĩa vụ nếu không trực tiếp tham gia lao động thì phải cử người làm thay hoặc đóng tiền thay thế. Người làm thay phải bảo đảm độ tuổi (nam từ 18 - 60 tuổi, nữ từ 18 - 55 tuổi) và đủ sức khỏe hoàn thành công việc.
- Mức tiền đóng thay: Do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tế địa phương, nhưng mức tối đa không được vượt quá 120% tiền lương một ngày của mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định. Khi nhận tiền, Ủy ban nhân dân cấp xã phải giao biên lai tài chính hợp lệ.
- Phân bổ nguồn lực ngày công: Nguồn lực thu được từ nghĩa vụ lao động công ích hằng năm được phân bổ theo tỷ lệ: cấp tỉnh tối đa 10%, cấp huyện tối đa 20%, phần còn lại (tối thiểu 70%) dành trọn cho cấp xã để thực hiện các công trình tại địa bàn cư trú của công dân.
- Quản lý quỹ ngày công: Ủy ban nhân dân các cấp được lập quỹ ngày công lao động công ích và phải phản ánh đầy đủ vào ngân sách địa phương. Tiền thu từ đóng thay phải nộp vào tài khoản riêng mở tại Kho bạc Nhà nước, quản lý công khai, dân chủ và đúng mục đích.
4. Nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết
Đối với các tình huống khẩn cấp như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, Pháp lệnh quy định cơ chế huy động đặc biệt:
- Trách nhiệm chung: Mọi công dân có sức lao động đều có nghĩa vụ tham gia lao động để kịp thời phòng, chống hoặc khắc phục hậu quả nhằm hạn chế tối đa thiệt hại.
- Thẩm quyền quyết định huy động:
- Thủ tướng Chính phủ: Quyết định huy động khi tình huống đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trên phạm vi nhiều tỉnh hoặc vượt quá khả năng giải quyết của cấp tỉnh.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh: Quyết định huy động trong phạm vi nhiều huyện hoặc vượt quá khả năng của cấp huyện.
- Chủ tịch UBND cấp huyện: Quyết định huy động trong phạm vi nhiều xã hoặc vượt quá khả năng của cấp xã.
- Chủ tịch UBND cấp xã: Quyết định huy động trong phạm vi địa bàn xã quản lý.
- Thời hạn huy động: Thời gian huy động lao động công ích trong trường hợp cấp thiết mỗi đợt không quá 5 ngày công, đã bao gồm cả thời gian đi và về.
5. Chế độ chính sách, bảo vệ quyền lợi người lao động
Nhà nước bảo đảm các quyền lợi và chế độ bồi dưỡng, chăm sóc y tế cho người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích:
- Hỗ trợ đi lại và lưu trú: Người lao động làm việc cách xa nơi cư trú, không thể đi về hằng ngày sẽ được đơn vị sử dụng hoặc cơ quan huy động bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện hoặc thanh toán tiền tàu xe một lần đi và về.
- Chế độ bồi dưỡng khi huy động khẩn cấp: Người lao động được bồi dưỡng một ngày làm việc bằng tiền lương một ngày của mức lương tối thiểu chung. Làm việc vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ sáng) được bồi dưỡng gấp đôi. Làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm được trang bị bảo hộ lao động và bồi dưỡng tương đương người lao động cùng môi trường thuộc khu vực sản xuất. Thời gian làm việc từ 2 đến 4 giờ tính nửa ngày, trên 4 đến 8 giờ tính một ngày; làm thêm giờ tính gấp đôi. Người ở xa được hỗ trợ thêm tiền ăn do UBND cấp tỉnh quy định.
- Chế độ tai nạn lao động: Người bị tai nạn được thanh toán chi phí y tế từ sơ cứu đến khi điều trị ổn định thương tật. Nếu suy giảm khả năng lao động thì được xét trợ cấp tùy mức độ. Trường hợp tử vong, người lo mai táng được nhận tiền mai táng và gia đình được nhận trợ cấp một lần theo quy định của Chính phủ.
- Chế độ ốm đau: Người có thẻ bảo hiểm y tế được cơ quan bảo hiểm thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Người chưa có thẻ bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi tương đương (trích từ ngân sách hoặc quỹ lao động công ích), trừ trường hợp bị ốm khi làm nghĩa vụ hằng năm tại công trình của cấp xã.
- Chính sách người có công: Người dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, nhân dân hoặc đấu tranh chống tội phạm trong khi thực hiện nghĩa vụ nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được xét hưởng chính sách như thương binh, nếu hy sinh được xét công nhận là liệt sĩ.
- Nguồn kinh phí chi trả: Các khoản chi cho nghĩa vụ hằng năm trích từ nguồn đóng tiền của cấp quản lý công trình hoặc ngân sách địa phương bổ sung. Các khoản chi cho nghĩa vụ khẩn cấp trích từ ngân sách của cấp ra quyết định huy động (riêng bão lụt sử dụng Quỹ phòng, chống bão, lụt).
6. Quản lý nhà nước, giám sát và chế tài xử lý vi phạm
Để bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu quả thực thi, Pháp lệnh quy định rõ trách nhiệm quản lý và các chế tài xử lý:
- Hệ thống quản lý nhà nước: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trong phạm vi cả nước. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý tại địa phương. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và tuyên truyền công dân thực hiện nghĩa vụ.
- Trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động: Phải chuẩn bị đầy đủ điều kiện, phương tiện, tổ chức lao động hiệu quả, an toàn; thực hiện nghiệm thu, thanh quyết toán minh bạch và chấp hành đầy đủ các chế độ chính sách đối với người lao động.
- Khen thưởng và xử lý vi phạm:
- Người có thành tích xuất sắc trong thực hiện nghĩa vụ lao động công ích được khen thưởng theo quy định.
- Người có thẩm quyền huy động hoặc quản lý lao động công ích vi phạm quy định của Pháp lệnh này sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
- Cá nhân có hành vi chống đối, trốn tránh, cản trở việc huy động hoặc làm hư hỏng, thất thoát vật tư, thiết bị phục vụ lao động công ích sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Quyền khiếu nại, tố cáo: Công dân và tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm các quy định trong Pháp lệnh này theo trình tự pháp luật quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 15/1999/PL-UBTVQH10 | Hà Nội, ngày 03 tháng 9 năm 1999 |
Để huy động một phần sức lao động của công dân tham gia xây dựng, tu bổ các công trình vì lợi ích chung của cộng đồng; kịp thời phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ tư về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1999;
Pháp lệnh này quy định nghĩa vụ lao động công ích của công dân.
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để công dân tham gia lao động công ích.
Nghiêm cấm việc huy động và sử dụng lao động nghĩa vụ công ích trái với quy định của Pháp lệnh này.
NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH HẰNG NĂM
Số ngày công nghĩa vụ lao động công ích hằng năm của mỗi công dân là 10 ngày.
Lao động công ích hằng năm được sử dụng để góp phần làm các công việc sau đây của địa phương :
1- Xây dựng, tu bổ đường giao thông;
2- Xây dựng, tu bổ các công trình thuỷ lợi; đối với việc xây dựng, tu bổ đê, kè thì thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng, chống lụt, bão;
3- Xây dựng, tu bổ trạm y tế, nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo, trường phổ thông và công trình vui chơi, giải trí không vì mục đích kinh doanh;
4- Xây dựng, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm liệt sĩ, nhà bia ghi tên liệt sĩ;
5- Xây dựng, tu bổ các công trình công ích có tính chất xã hội khác.
Những người sau đây được miễn thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm :
1- Cán bộ, chiến sĩ thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân;
2- Công nhân, công chức quốc phòng và công an nhân dân làm việc ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo; công nhân, công chức quốc phòng thuộc các đội sửa chữa lưu động chuyên nghiệp;
3- Quân nhân xuất ngũ đang đăng ký ở ngạch dự bị hạng một;
4- Thương binh, bệnh binh và những người hưởng chính sách như thương binh;
5- Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, người có công nuôi liệt sĩ;
6- Người giữ chức sắc tôn giáo chuyên nghiệp;
7- Người mắc bệnh tâm thần, động kinh hoặc có nhược điểm về thể chất mà không còn khả năng lao động;
8- Người bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên.
1- Người đang điều trị, điều dưỡng; người duy nhất trong gia đình đang trực tiếp chăm sóc thân nhân bị ốm nặng;
2- Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của quân nhân tại ngũ có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đâu gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) chứng nhận;
3- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;
4- Người chồng mà vợ chết hoặc đã ly hôn đang trực tiếp nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;
5- Người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc phục vụ thương binh nặng, bệnh binh nặng, người tàn tật bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
6- Người thuộc lực lượng nòng cốt của dân quân tự vệ;
7- Cán bộ, công chức nhà nước được điều động đến làm việc có thời hạn ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo;
8- Thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện đang làm nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao;
9- Người là lao động duy nhất trong gia đình đang trực tiếp nuôi người khác không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;
10- Người trong hộ gia đình được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thuộc diện hộ đói theo chuẩn mực do Chính phủ quy định;
11- Trưởng, phó công an xã, công an viên; trưởng thôn, xóm hoặc tương đương;
12- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, thực tập sinh, sinh viên, học sinh học tập trung dài hạn tại các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trường đào tạo của các tôn giáo; học sinh phổ thông; người đang dạy và người đang học để xoá mù chữ;
13- Người đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài.
Thời hạn báo cáo do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
Người làm thay phải từ đủ 18 tuổi đến hết 60 tuổi đối với nam, từ đủ 18 tuổi đến hết 55 tuổi đối với nữ và đủ sức khoẻ hoàn thành định mức lao động hoặc khối lượng công việc được giao.
Mức tiền đóng thay cho mỗi ngày công do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định phù hợp với thực tế của từng khu vực tại địa phương, nhưng mức cao nhất không được vượt quá 120% tiền lương một ngày của mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định.
2- Toàn bộ quỹ ngày công lao động công ích phải được phản ánh vào ngân sách địa phương các cấp.
Số tiền thu được từ việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm bằng hình thức đóng tiền của cấp nào phải được nộp vào tài khoản riêng của cấp đó mở tại Kho bạc nhà nước.
3- Việc quản lý và sử dụng quỹ ngày công lao động công ích phải bảo đảm đúng mục đích, dân chủ và công khai.
Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng quỹ ngày công lao động công ích.
Nguồn lực từ nghĩa vụ lao động công ích hằng năm của cấp tỉnh, cấp huyện được sử dụng để hỗ trợ cho các công trình công ích do cấp dưới quản lý hoặc sử dụng vào công trình công ích do cấp mình quản lý.
Quyết định huy động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải được thông báo cho người được huy động hoặc gia đình họ biết chậm nhất là 7 ngày trước ngày thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.
NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH TRONG TRƯỜNG HỢP CẤP THIẾT KHI XẢY RA THIÊN TAI, HOẢ HOẠN, DỊCH BỆNH
1- Thủ tướng Chính phủ quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết đặc biệt nghiêm trọng xảy ra có ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội hoặc tác động nguy hiểm đến môi trường sinh thái thuộc phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp tỉnh;
2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, hoặc trong một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp huyện;
Trong trường hợp không tự giải quyết được thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải báo cáo ngay với cấp trên trực tiếp giải quyết.
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI TRỰC TIẾP LAO ĐỘNG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH
2- Các chế độ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này được tính theo số giờ thực tế làm việc hàng ngày. Làm việc từ 2 giờ đến 4 giờ được tính nửa ngày, làm việc từ trên 4 giờ đến 8 giờ được tính cả ngày; trường hợp phải làm thêm giờ thì số giờ làm thêm được tính gấp đôi.
3- Ngoài chế độ bồi dưỡng quy định tại Điều này, người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về hàng ngày được hỗ trợ tiền ăn. Mức hỗ trợ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra tình trạng cấp thiết quy định.
Chính phủ quy định cụ thể chi phí y tế, tiền mai táng và các chế độ trợ cấp.
1- Các khoản chi thuộc nghĩa vụ lao động công ích hằng năm được trích từ nguồn lao động công ích hằng năm bằng tiền của cấp quản lý công trình, nếu nguồn này không đủ thì được bổ sung từ ngân sách địa phương cùng cấp;
2- Các khoản chi thuộc nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được trích từ ngân sách của cấp ra quyết định huy động, riêng trường hợp cấp thiết do bão, lụt thì sử dụng quỹ phòng, chống bão, lụt.
1- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích trong phạm vi cả nước.
2- Bộ lao động, thương binh và xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích.
3- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ lao động, thương binh và xã hội thực hiện việc quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích.
4- Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích ở địa phương.
2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp quyết định huy động lao động công ích trong trường hợp cấp thiết theo thẩm quyền quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 24 của Pháp lệnh này và báo cáo kết quả với cấp trên trực tiếp sau mỗi lần huy động.
3- Hằng năm, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chính phủ về kết quả thực hiện nghĩa vụ lao động công ích tại địa phương.
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2000.
Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích ngày 10 tháng 11 năm 1988.
Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
|
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
Ordinance No. 15/1999/PL-UBTVQH of September 3, 1999 on The Public Labor Obligation
- Số hiệu: 15/1999/PL-UBTVQH
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 03/09/1999
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/2000
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
