Lệnh số 19/2008/L-CTN ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Chủ tịch nước công bố Luật Công nghệ cao là văn bản pháp lý nền tảng, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc thúc đẩy, định hướng và phát triển khoa học công nghệ hiện đại tại Việt Nam. Dưới đây là phần tóm tắt chuyên sâu và chi tiết về phần mở đầu cùng các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của Luật Công nghệ cao năm 2008.
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1 và Điều 2)
Quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng nhằm xác định rõ giới hạn pháp lý và các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của Luật:
- Phạm vi điều chỉnh (Điều 1): Luật này quy định toàn diện về các hoạt động công nghệ cao, bao gồm nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao. Đồng thời, Luật cũng quy định các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích, hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước đối với các hoạt động này nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
- Đối tượng áp dụng (Điều 2): Luật áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài; và các tổ chức quốc tế tham gia vào hoạt động công nghệ cao hoặc có liên quan đến hoạt động công nghệ cao tại lãnh thổ Việt Nam. Quy định này thể hiện tính mở, sẵn sàng hội nhập và khuyến khích hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao.
- Giải thích từ ngữ và các khái niệm cốt lõi (Điều 3)
Điều 3 của Luật đưa ra các định nghĩa pháp lý chuẩn xác cho các khái niệm cơ bản, làm cơ sở để áp dụng đồng bộ các chính sách ưu đãi và quản lý nhà nước:
- Công nghệ cao: Được định nghĩa là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, sức cạnh tranh lớn; có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội khác hoặc có ý nghĩa quyết định đến quốc phòng, an ninh.
- Hoạt động công nghệ cao: Bao gồm các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, chuyển giao công nghệ cao; đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao; và cung ứng dịch vụ công nghệ cao.
- Sản phẩm công nghệ cao: Là sản phẩm được tạo ra từ công nghệ cao, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao và có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu.
- Doanh nghiệp công nghệ cao: Là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nghiêm ngặt do Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể.
- Ươm tạo công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao: Là quá trình hỗ trợ nhằm hoàn thiện công nghệ cao hoặc giúp các doanh nghiệp công nghệ cao vượt qua giai đoạn khởi đầu khó khăn để đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định.
- Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động công nghệ cao (Điều 4)
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển công nghệ cao thông qua các chính sách vĩ mô mang tính chiến lược:
- Tập trung nguồn lực: Nhà nước ưu tiên tập trung các nguồn lực đầu tư cho phát triển công nghệ cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ trọng điểm được xác định theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội.
- Ứng dụng và hiện đại hóa: Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng mạnh mẽ công nghệ cao vào việc hiện đại hóa các ngành công nghiệp truyền thống, nông nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực đời sống xã hội khác.
- Khuyến khích đầu tư tư nhân và nước ngoài: Áp dụng các chính sách ưu đãi cao nhất về thuế, đất đai, tín dụng cho các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao tại Việt Nam.
- Phát triển nguồn nhân lực: Đầu tư ngân sách và thu hút các nguồn lực xã hội để đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng có hiệu quả nhân lực công nghệ cao trong và ngoài nước; xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành.
- Hợp tác quốc tế: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ cao, tạo điều kiện cho việc chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài vào Việt Nam và ngược lại, đồng thời tham gia vào các chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THE PRESIDENT OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM | SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM |
| No. 19/2008/L-CTN | Hanoi, November 28, 2008 |
ORDER
ON THE PROMULGATION OF LAW
THE PRESIDENT OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Pursuant to Articles 103 and 106 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam, which was amended and supplemented under Resolution No. 51/2001/QH10 of December 25. 2001, of the Xth National Assembly, the 10th session.
Pursuant to Article 91 of the Law on Organization of the National Assembly;
Pursuant to Article 50 of the Law on Promulgation of Ixgal Documents.
PROMULGATES:
the Law on High Technologies,
which was passed on November 13. 2008, by the XIIth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 4th session.
...
...
...
PRESIDENT OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Nguyen Minh Triet
- 1Law No. 21/2008/QH12 of November 13, 2008, on high technologies
- 2Law No. 30/2001/QH10 dated December 25, 2001, on organization of the National Assembly
- 3Resolution no. 51/2001/NQ-QH10 of December 25, 2001 on amendments and supplements to a number of articles of the 1992 constitution of the socialist republic of Vietnam
- 4Law No. 52-L/CTN of Novermber 12 ,1996, on the promulgation of legal documents
- 51992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam
Order No. 19/2008/L-CTN of November 28, 2008, on the promulgation of the Law on High Technologies
- Số hiệu: 19/2008/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 28/11/2008
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/11/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
