Lệnh số 10/2010/L-CTN ngày 29 tháng 06 năm 2010 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Luật Người khuyết tật (Luật số 51/2010/QH12) là văn bản pháp lý nền tảng, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao đời sống của người khuyết tật, tạo điều kiện để họ bình đẳng tham gia vào các hoạt động xã hội.
Phạm vi áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có liên quan đến người khuyết tật. Đối tượng điều chỉnh trực tiếp là người khuyết tật, gia đình của người khuyết tật và các tổ chức xã hội hoạt động vì quyền lợi của người khuyết tật.
Phạm vi điều chỉnh của Luật Người khuyết tật (Điều 1)
Điều 1 xác định rõ giới hạn điều chỉnh của đạo luật này, bao gồm ba nhóm nội dung cốt lõi:
- Quy định chi tiết về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người khuyết tật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Xác định rõ ràng trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và toàn xã hội trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện và bảo đảm thực thi các quyền của người khuyết tật.
- Thiết lập hành lang pháp lý cho các hoạt động trợ giúp, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí và tiếp cận công trình công cộng, giao thông, công nghệ thông tin đối với người khuyết tật.
Giải thích các thuật ngữ pháp lý nền tảng (Điều 2)
Để bảo đảm tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, Điều 2 đưa ra định nghĩa chuẩn xác cho các khái niệm chuyên ngành:
- Người khuyết tật: Là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật dẫn đến suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.
- Kỳ thị người khuyết tật: Là thái độ khinh thường, xa lánh, không tôn trọng hoặc nhìn nhận thiếu khách quan về khả năng của người khuyết tật do đặc điểm khuyết tật của họ.
- Phân biệt đối xử người khuyết tật: Là hành vi hạn chế, loại trừ, từ chối, từ bỏ hoặc không công nhận, gây khó khăn cho người khuyết tật trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ bình đẳng như những người khác.
- Hòa nhập cộng đồng: Là quá trình tạo cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật tham gia đầy đủ vào các hoạt động của đời sống xã hội, không bị phân biệt đối xử hay rào cản dưới bất kỳ hình thức nào.
- Sự can thiệp sớm: Là các biện pháp y tế, giáo dục và xã hội được thực hiện kịp thời nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu hoặc khắc phục hậu quả của khuyết tật đối với trẻ em hoặc người mới bị khuyết tật.
Phân loại dạng khuyết tật và xác định mức độ khuyết tật (Điều 3)
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội, ưu đãi và hỗ trợ phù hợp với từng đối tượng cụ thể:
- Các dạng khuyết tật được luật hóa bao gồm: Khuyết tật vận động (suy giảm chức năng vận động của hệ xương, cơ, khớp); Khuyết tật nghe, nói (suy giảm chức năng thính giác và ngôn ngữ); Khuyết tật nhìn (suy giảm chức năng thị giác); Khuyết tật trí tuệ (chậm phát triển trí tuệ, hạn chế khả năng nhận thức); Khuyết tật thần kinh, tâm thần (rối loạn tâm thần, hành vi); và các dạng khuyết tật khác do Chính phủ quy định cụ thể.
- Mức độ khuyết tật được chia thành ba nhóm chính: Người khuyết tật đặc biệt nặng (người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày); Người khuyết tật nặng (người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một phần việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày); Người khuyết tật nhẹ (các trường hợp khuyết tật không thuộc hai nhóm trên nhưng vẫn ảnh hưởng đến khả năng lao động và sinh hoạt).
Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật (Điều 4)
Điều 4 khẳng định vị thế pháp lý bình đẳng của người khuyết tật trong xã hội thông qua hệ thống quyền và nghĩa vụ cụ thể:
- Các quyền cơ bản của người khuyết tật: Quyền được tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; Quyền được sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; Quyền được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp, học phí, lệ phí theo quy định; Quyền được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, tạo việc làm; Quyền được tiếp cận các công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông; Quyền được hưởng các chính sách bảo trợ xã hội và ưu đãi khác theo quy định của pháp luật.
- Nghĩa vụ của người khuyết tật: Người khuyết tật có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng; nỗ lực tự lập, vượt khó để hòa nhập cộng đồng và đóng góp cho xã hội.
Luật Người khuyết tật ban hành kèm theo Lệnh số 10/2010/L-CTN chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, thay thế cho Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, tạo bước ngoặt mới trong việc bảo vệ quyền con người của nhóm đối tượng yếu thế tại Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10/2010/L-CTN | Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2010 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 57 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ
Luật người khuyết tật
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010.
|
| CHỦ TỊCH |
- 1Order No. 37/2014/L-CTN dated December 9, 2014, on the promulgation of The Resolution on ratification of the United Nations Convention on the Rights of Persons with Disabilities
- 2Law No. 51/2010/QH12 of June 17, 2010, on persons with disabilities
- 3Law No. 17/2008/QH12 of June 03, 2008, on the promulgation of legal documents.
- 4Law No. 30/2001/QH10 dated December 25, 2001, on organization of the National Assembly
- 51992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam
Order No. 10/2010/L-CTN of June 29, 2010, on the promulgation of the Law on Persons with Disabilities
- Số hiệu: 10/2010/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 29/06/2010
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 29/06/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
