Giới thiệu chung về Lệnh số 05/2009/L-CTN
Lệnh số 05/2009/L-CTN ngày 29 tháng 6 năm 2009 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc công bố luật đã chính thức ban hành Luật Quy hoạch đô thị được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 17 tháng 6 năm 2009. Đây là văn bản pháp lý nền tảng, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế quản lý, xây dựng và phát triển đô thị tại Việt Nam theo hướng bền vững, hiện đại.
Dưới đây là tóm tắt và phân tích chuyên sâu nội dung phần mở đầu cùng các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, xác lập các nguyên tắc cốt lõi, phạm vi, đối tượng và các khái niệm cơ bản nhất của hoạt động quy hoạch đô thị.
- Điều 1: Phạm vi điều chỉnh
- Luật này quy định toàn diện về hoạt động quy hoạch đô thị, bao gồm các khâu: lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị.
- Quy định về tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và công tác quản lý phát triển đô thị dựa trên các đồ án quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Xác định rõ quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước cũng như tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động quy hoạch đô thị.
- Điều 2: Đối tượng áp dụng
- Áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân trong nước có hoạt động liên quan đến quy hoạch đô thị trên lãnh thổ Việt Nam.
- Áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động quy hoạch đô thị tại Việt Nam, đảm bảo tính thống nhất và bình đẳng trước pháp luật đối với các thực thể đầu tư, tư vấn và quản lý.
- Điều 3: Giải thích từ ngữ
Điều khoản này định nghĩa một cách khoa học và chuẩn xác các thuật ngữ chuyên ngành để làm cơ sở áp dụng thống nhất pháp luật, cụ thể:
- Đô thị: Là khu vực tập trung dân cư mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong nền kinh tế phi nông nghiệp. Đây là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương. Đô thị bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; và thị trấn.
- Quy hoạch đô thị: Là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.
- Nhiệm vụ quy hoạch đô thị: Là các yêu cầu về nội dung nghiên cứu và tổ chức thực hiện được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch đô thị.
- Đồ án quy hoạch đô thị: Là tài liệu thể hiện nội dung của quy hoạch đô thị, bao gồm các bản vẽ, mô hình, thuyết minh và quy định quản lý theo quy hoạch đô thị.
- Quy hoạch chung: Là việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
- Quy hoạch phân khu: Là việc phân chia và xác định chức năng sử dụng đất, các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cho một khu vực đô thị nhằm cụ thể hoá nội dung của quy hoạch chung.
- Quy hoạch chi tiết: Là việc cụ thể hoá nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung, nhằm đưa ra các quy định chi tiết về chỉ tiêu sử dụng đất, yêu cầu kiến trúc, cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật cho từng lô đất.
- Thiết kế đô thị: Là việc cụ thể hoá quy hoạch đô thị về tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan các tuyến phố, quảng trường, khu vực điểm nhấn trong đô thị.
- Điều 4: Phân loại đô thị
Luật quy định rõ ràng hệ thống phân loại đô thị tại Việt Nam nhằm tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển và quản lý hành chính:
- Hệ thống phân loại: Đô thị nước ta được phân thành 6 loại, bao gồm: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V.
- Các tiêu chí phân loại cơ bản: Việc phân loại đô thị phải dựa trên các tiêu chí cốt lõi bao gồm: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; Quy mô dân số; Mật độ dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
- Ý nghĩa của phân loại: Làm căn cứ để xác định mô hình tổ chức chính quyền đô thị, lập quy hoạch đô thị, đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng và quản lý hành chính nhà nước một cách hiệu quả, phù hợp với đặc thù của từng địa phương.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/2009/L-CTN | Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2009 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 57 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật quản lý nợ công
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009./.
|
| CHỦ TỊCH |
Order No. 05/2009/L-CTN of June 29, 2009, on the promulgation of Law
- Số hiệu: 05/2009/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 29/06/2009
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 29/06/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
