Tóm tắt Công văn số 10220/BTC-TCT ngày 20/07/2009 của Bộ Tài chính về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, hoàn thuế GTGT
Công văn số 10220/BTC-TCT do Bộ Tài chính ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết và tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào.
Nguyên tắc xác định chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ
Để được ghi nhận là chứng từ thanh toán qua ngân hàng phục vụ cho việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT, chứng từ phải đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Phải có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán. Các tài khoản này phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế theo quy định.
- Các chứng từ thanh toán hợp pháp bao gồm: Giấy báo Nợ, Giấy báo Có của ngân hàng, Ủy nhiệm chi hoặc các chứng từ chuyển tiền khác do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát hành.
- Nội dung trên chứng từ thanh toán phải thể hiện rõ thông tin của bên chuyển tiền (bên mua) và bên nhận tiền (bên bán) phù hợp với thông tin trên hợp đồng mua bán và hóa đơn GTGT.
Hướng dẫn xử lý đối với các phương thức thanh toán đặc thù
Công văn đưa ra hướng dẫn cụ thể đối với một số trường hợp thanh toán không đi trực tiếp từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán nhưng vẫn được chấp nhận khấu trừ, hoàn thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện:
- Thanh toán bù trừ công nợ: Trường hợp hai bên thực hiện bù trừ công nợ (như bù trừ giữa giá trị hàng hóa mua vào với giá trị hàng hóa bán ra, hoặc bù trừ qua bên thứ ba), phương thức này phải được quy định rõ trong hợp đồng mua bán. Doanh nghiệp phải xuất trình được biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của các bên liên quan.
- Thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba: Việc thanh toán qua bên thứ ba được ủy quyền phải được quy định cụ thể trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng bằng văn bản. Đồng thời, chứng từ chuyển khoản phải thể hiện rõ dòng tiền được chuyển vào tài khoản của bên được ủy quyền hợp pháp.
- Thanh toán bằng thẻ tín dụng: Trường hợp cá nhân thuộc đơn vị được ủy quyền sử dụng thẻ tín dụng cá nhân để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ cho đơn vị, sau đó đơn vị thanh toán lại cho cá nhân qua tài khoản ngân hàng. Hình thức này được chấp nhận nếu quy chế tài chính nội bộ của đơn vị có quy định rõ ràng và có đầy đủ chứng từ chứng minh dòng tiền chuyển từ tài khoản của đơn vị sang tài khoản cá nhân đó.
Các trường hợp không được thừa nhận là thanh toán qua ngân hàng
Doanh nghiệp cần lưu ý các trường hợp sau đây sẽ không được tính là thanh toán qua ngân hàng và không đủ điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế GTGT:
- Bên mua sử dụng tiền mặt để nộp trực tiếp vào tài khoản của bên bán tại ngân hàng (không thực hiện thao tác chuyển khoản từ tài khoản của bên mua).
- Các chứng từ thanh toán không thể hiện rõ thông tin tài khoản của bên mua hoặc bên bán, hoặc thông tin không trùng khớp với các bên tham gia hợp đồng kinh tế.
- Sử dụng các hình thức thanh toán không được pháp luật về ngân hàng thừa nhận hoặc không được thỏa thuận bằng văn bản trong hợp đồng giữa các bên.
Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp
Để đảm bảo an toàn pháp lý và tránh bị cơ quan thuế xuất toán khi thực hiện thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp cần:
- Chủ động rà soát và đối chiếu thông tin tài khoản ngân hàng của đối tác trước khi thực hiện giao dịch chuyển tiền.
- Lưu trữ đầy đủ, khoa học các chứng từ thanh toán đi kèm với hóa đơn GTGT và hợp đồng thương mại tương ứng.
- Đảm bảo các điều khoản về phương thức thanh toán, tài khoản giao dịch và các thỏa thuận ủy quyền (nếu có) được ghi nhận rõ ràng, chi tiết trong hợp đồng kinh tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10220/BTC-TCT | Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2009 |
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Bộ Tài chính nhận được công văn, ý kiến của các Cục thuế và cơ sở kinh doanh hỏi về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên để được khấu trừ GTGT. Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Tại điểm b khoản 2 Điều 12 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 quy định điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như sau:
“b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng”.
Tại điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT quy định điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như sau:
b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng.
...Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng; trường hợp sau khi bù trừ mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng”.
Tại điểm 1.3.b mục III phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về thuế GTGT hướng dẫn như sau:
“b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.
Hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn trên hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ. Đối với những hoá đơn này, cơ sở kinh doanh kê khai vào mục riêng trong bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào.
...Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa bán ra; bù trừ công nợ; thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng mà các phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng; Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Khi kê khai hoá đơn thuế giá trị gia tăng đầu vào, cơ sở kinh doanh ghi rõ phương thức thanh toán được quy định cụ thể trong hợp đồng vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào”.
Căn cứ các hướng dẫn trên, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện sau:
1. Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các hình thức thanh toán khác theo quy định.
2. Các trường hợp được coi là thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm:
a) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hoá, dịch vụ mua vào với hàng hoá, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng.
b) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba (ngoài trường hợp nêu tại tiết a điểm này) mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền.
c) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng thì việc thanh toán theo uỷ quyền phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.
3. Các chứng từ và trường hợp sau đây không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên:
a) Chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.
b) Chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
c) Các trường hợp khác không đáp ứng được điều kiện nêu tại điểm 1 và điểm 2 công văn này.
4. Một số trường hợp khác
4.1. Tại điểm 5.1, 5.3 mục I phần B Thông tư số 60/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về Luật quản lý Thuế hướng dẫn như sau:
“ 5.1. Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Hồ sơ khai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.
......
5.3. Trường hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm giảm số thuế phải nộp, người nộp thuế được điều chỉnh giảm tiền thuế, tiền phạt (nếu có) tại ngày cuối cùng của tháng nộp hồ sơ khai bổ sung; hoặc được bù trừ số thuế giảm vào số thuế phát sinh của lần khai thuế tiếp theo.”
Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán theo phương thức trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá dịch vụ mua trên 20 triệu đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế, đến thời hạn thanh toán nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hoá không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Sau khi cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với giá trị hàng hoá không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh mới có được chứng từ chứng minh việc thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh có quyền khai bổ sung nhưng phải trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.
4.2. Trường hợp thanh toán trong nội bộ doanh nghiệp có đơn vị hạch toán phụ thuộc có phát sinh hoá đơn GTGT nhưng không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì quan hệ thanh toán tiền hàng mang tính chất thanh toán nội bộ giữa công ty và chi nhánh hoặc giữa công ty trong tập đoàn vẫn đủ điều kiện được khấu trừ thuế GTGT.
5. Đối với trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên trong thời gian từ ngày 01/01/2009 đến hết ngày 31/03/2009 có chứng từ chứng minh việc nộp tiền mặt vào tài khoản bên bán hoặc có chứng từ chuyển tiền vào tài khoản bên bán được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
6. Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn doanh nghiệp, cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng phục vụ mình để thực hiện chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán đúng theo quy định.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đơn vị, cơ sở kinh doanh phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để được giải quyết./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Circular No. 129/2008/TT-BTC of December 26, 2008, guiding the implementation of a number of articles of the Value-Added Tax Law and guiding the implementation of the Government’s Decree No. 123/2008/ND-CP of December 8, 2008, detailing and guiding the implementation of a number of articles of the Value-Added Tax Law.
- 2Decree no. 123/2008/ND-CP of December 8, 2008, detailing and guiding the implementation of a number of articles of the Law on Value-Added Tax.
- 3Law No. 13/2008/QH12 of June 3, 2008, on value-added tax.
- 4Circular No. 60/2007/TT-BTC of June 14, 2007 guiding the implementation of a number of articles of the law on tax administration and guiding the implementation of The Government’s Decree No. 85/2007/ND-CP of May 25, 2007, detailing the implementation of a number of articles of the law on tax administration
Official Dispatch No. 10220/BTC-TCT No of July 20, 2009, re on the condition regarding via-bank payment documents for vat credit and refund
- Số hiệu: 10220/BTC-TCT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/07/2009
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Đỗ Hoàng Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/07/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
