Nghị quyết về việc sửa đổi Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành là văn bản pháp lý quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bầu cử, bảo đảm tính dân chủ, khách quan và thống nhất trong việc lựa chọn những đại biểu ưu tú vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nội dung trọng tâm của Nghị quyết tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định cơ bản tại phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên từ Điều 1 đến Điều 4.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị quyết này điều chỉnh các hoạt động liên quan đến công tác chuẩn bị, tổ chức và thực hiện bầu cử đại biểu Quốc hội trên phạm vi cả nước. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế và mọi công dân Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Nội dung cốt lõi của Phần mở đầu và các Điều khoản đầu (Điều 1 - Điều 4)
- Nguyên tắc bầu cử (Điều 1)
- Khẳng định và làm rõ nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
- Sửa đổi các quy định chi tiết nhằm bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau trong việc tham gia bầu cử, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú.
- Bổ sung các biện pháp hỗ trợ cử tri là người khuyết tật, người đang bị tạm giam, tạm giữ hoặc người gặp khó khăn trong việc di chuyển thực hiện quyền bầu cử trực tiếp.
- Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử (Điều 2)
- Quy định rõ ràng về độ tuổi của công dân được thực hiện quyền bầu cử và quyền ứng cử đại biểu Quốc hội.
- Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội.
- Hướng dẫn cụ thể cách thức tính tuổi căn cứ theo ngày, tháng, năm sinh trên giấy khai sinh hoặc căn cước công dân để bảo đảm quyền lợi tối đa cho cử tri.
- Tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội được sửa đổi (Điều 3)
- Nâng cao tiêu chuẩn đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội nhằm lựa chọn những người có đủ đức, đủ tài, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
- Yêu cầu người ứng cử phải trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ đại biểu.
- Đặc biệt nhấn mạnh tiêu chuẩn về sự liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và được nhân dân tín nhiệm.
- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử (Điều 4)
- Phân định rõ ràng trách nhiệm của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương.
- Quy định về sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trong việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử và tổ chức vận động bầu cử.
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch và giám sát xã hội đối với toàn bộ quá trình chuẩn bị và tiến hành bầu cử.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật hiện hành, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc tổ chức các kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội tiếp theo, bảo đảm ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 1974 |
NGHỊ QUYẾT
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Căn cứ vào điều 45 và điều 50 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà;
Theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
QUYẾT NGHỊ:
Điều 11 (mới):
Đại biểu Quốc hội do từng đơn vị bầu cử bầu ra.
Số đại biểu định cho mỗi đơn vị bầu cử là căn cứ vào số dân của dơn vị đó: cứ bảy vạn (70.000) dân được cử một đại biểu; nếu số lẻ còn lại quá ba vạn năm nghìn (35.000) thì được thêm một đại biểu.
ở những khu công nghiệp tập trung và ở những thành phố trực thuộc trung ương thì có thể từ hai vạn (20.000) đến năm vạn (50.000) dân được cử một đại biểu.
Điều 12 (mới):
D ựa vào dân số dân tộc thiểu số so với dân số toàn quốc, số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số bằng khoảng một phần sáu tổng số đại biểu Quốc hội.
Số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân phối, nhằm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số có số đại biểu tương xứng trong Quốc hội.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ IV, kỳ họp thứ 5 thông qua trong phiên họp ngày 28 tháng 12 năm 1974.
Nghị quyết về việc sửa đổi Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: Khôngsố
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 28/12/1974
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 24
- Ngày hiệu lực: 12/01/1975
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
