Nghị quyết số 34/1999/NQ-QH10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 21 tháng 12 năm 1999, quyết định về việc giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng và ban hành Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp nhằm nhanh chóng hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc ứng phó với các tình huống đặc biệt đe dọa đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Phạm vi áp dụng của Nghị quyết tập trung vào công tác lập pháp, phân công nhiệm vụ phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong việc soạn thảo, thẩm tra và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tình trạng khẩn cấp. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Quốc phòng và An ninh, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cùng các cơ quan, tổ chức hữu quan chịu trách nhiệm thi hành quy trình lập pháp này.
Nhiệm vụ trọng tâm về việc xây dựng và ban hành Pháp lệnh
- Quốc hội chính thức giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2000.
- Mục tiêu của việc ban hành Pháp lệnh nhằm tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, kịp thời để Nhà nước chủ động ứng phó, ngăn chặn và khắc phục hậu quả của các tình huống khẩn cấp do thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa tự nhiên, tai nạn nghiêm trọng hoặc các mối đe dọa xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Phân công trách nhiệm cụ thể giữa các cơ quan Nhà nước
- Chính phủ có trách nhiệm chủ trì soạn thảo dự thảo Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp, bảo đảm nội dung dự thảo bám sát thực tiễn, có tính khả thi cao, phù hợp với các quy định của Hiến pháp và bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.
- Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và các cơ quan liên quan tiến hành thẩm tra chặt chẽ dự thảo Pháp lệnh trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua.
Định hướng nội dung cốt lõi của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp
- Xác định rõ ràng, cụ thể các tiêu chí, điều kiện và thẩm quyền ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trên phạm vi cả nước hoặc tại từng địa phương, vùng lãnh thổ cụ thể.
- Quy định chi tiết các biện pháp đặc biệt được phép áp dụng trong tình trạng khẩn cấp, bao gồm việc huy động nhân lực, vật lực, phương tiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; việc hạn chế một số quyền tự do đi lại, cư trú của công dân trong giới hạn cần thiết và phù hợp với quy định của Hiến pháp nhằm nhanh chóng ổn định tình hình.
- Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, lực lượng vũ trang nhân dân và nghĩa vụ của mọi tổ chức, công dân trong việc chấp hành các quyết định đặc biệt khi tình trạng khẩn cấp được ban bố.
Nghị quyết số 34/1999/NQ-QH10 có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Quốc hội thông qua (ngày 21 tháng 12 năm 1999), là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy sự ra đời của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước trong mọi tình huống.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 34/1999/NQ-QH10 | Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1999 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ XÂY DỰNG PHÁP LỆNH TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 84 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Điều 2 và Điều 6 của Luật tổ chức Quốc hội;
Theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
QUYẾT NGHỊ
Giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp để áp dụng trong trường hợp có thảm hoạ lớn do thiên nhiên hoặc con người gây ra; dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên quy mô rộng hoặc có tình hình đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
Nghị quyết số 34/1999/NQ-QH10 về xây dựng Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp do Quốc Hội ban hành
- Số hiệu: 34/1999/NQ-QH10
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 21/12/1999
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/12/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
