Nghị quyết 81/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2014 quy định chi tiết về việc thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm chuyển tiếp hoạt động, tổ chức bộ máy và nhân sự của hệ thống Tòa án nhân dân từ quy định cũ sang quy định mới một cách đồng bộ, ổn định và hiệu quả.
1. Quy định chuyển tiếp về tổ chức bộ máy, nhân sự và thẩm quyền trong giai đoạn chuẩn bị (Điều 1)
Trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 02 năm 2015 đến ngày Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 chính thức có hiệu lực thi hành, các công tác chuẩn bị được thực hiện cụ thể như sau:
- Trách nhiệm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Tiến hành rà soát, chuẩn bị toàn diện về tổ chức bộ máy, nhân sự, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác để bảo đảm hoạt động thông suốt của Tòa án nhân dân các cấp theo luật mới.
- Thời hạn nhiệm kỳ của Thẩm phán: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hết nhiệm kỳ từ ngày 01/01/2014 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đến ngày 01/06/2015. Thẩm phán trung cấp và sơ cấp hết nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi được xem xét, bổ nhiệm lại theo quy định mới trước ngày 30/09/2015.
- Thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Ban hành Nghị quyết phê chuẩn tổ chức bộ máy, nhiệm vụ của bộ máy giúp việc Tòa án nhân dân tối cao; thành lập các Tòa án nhân dân cấp cao (số lượng, phạm vi thẩm quyền lãnh thổ); quyết định biên chế, số lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao; ban hành Quy chế hoạt động và quyết định danh sách Ủy viên Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia.
- Thẩm quyền ban hành quy chế và thành lập Tòa chuyên trách của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Ban hành Quy chế hoạt động và tổ chức thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp, trung cấp, cao cấp; quyết định thành lập các Tòa chuyên trách tại Tòa án cấp tỉnh và cấp huyện; quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ của bộ máy giúp việc tại các Tòa án nhân dân cấp cao, cấp tỉnh, cấp huyện và các Tòa án quân sự (sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).
- Công tác nhân sự Thẩm phán: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuẩn bị nhân sự trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; trình Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán cao cấp đối với các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũ không được bổ nhiệm lại theo luật mới (quy định đặc cách tính thời gian giữ ngạch Thẩm phán cao cấp đủ 05 năm nếu đã giữ ngạch cũ dưới 05 năm).
2. Chuyển giao thẩm quyền xét xử và giải quyết các vụ án khi Luật có hiệu lực (Điều 2)
Kể từ ngày Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 có hiệu lực, việc chuyển giao thẩm quyền xét xử và xử lý các vụ án chuyển tiếp được thực hiện nghiêm ngặt theo các nguyên tắc sau:
- Chuyển giao của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Chuyển giao nhiệm vụ cho Hội đồng Thẩm phán mới. Việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện bằng Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao và Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương xét xử bằng Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán theo luật tố tụng hiện hành. Quy định xét xử bằng Hội đồng 05 Thẩm phán hoặc 03 Thẩm phán chỉ áp dụng khi có luật tố tụng mới.
- Chuyển giao thẩm quyền của các Tòa chuyên trách và Tòa án cấp tỉnh: Các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao thẩm quyền xét xử phúc thẩm; các Tòa chuyên trách và Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh chuyển giao thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm cho các Tòa án nhân dân cấp cao và Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao.
- Chuyển giao thẩm quyền của Tòa án quân sự: Tòa án quân sự quân khu và tương đương chuyển giao thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm cho Tòa án quân sự trung ương và Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương. Các Tòa án quân sự tiếp tục xét xử hình sự theo quy định hiện hành cho đến khi có Bộ luật tố tụng hình sự mới.
- Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực của tất cả các Tòa án (gồm cả Tòa án nhân dân cấp cao). Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kháng nghị bản án của Tòa án cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi lãnh thổ. Chánh án Tòa án quân sự trung ương kháng nghị bản án của Tòa án quân sự khu vực.
- Thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên: Thực hiện theo quy định của các luật tố tụng mới.
3. Hướng dẫn xử lý các vụ án và đơn thư tồn đọng trước ngày 01/06/2015 (Điều 2)
Nghị quyết phân định rõ thẩm quyền giải quyết đối với các vụ án và đơn thư khiếu nại chưa được xét xử hoặc giải quyết trước ngày 01 tháng 6 năm 2015:
- Đối với vụ án đã bị kháng nghị nhưng chưa xét xử:
- Bản án của Tòa án cấp huyện, Tòa quân sự khu vực thuộc thẩm quyền của Tòa cấp tỉnh/quân khu: Giao cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giải quyết.
- Bản án của Tòa án cấp tỉnh thuộc thẩm quyền của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao: Giao cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao theo lãnh thổ giải quyết.
- Bản án của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa chuyên trách tối cao, Tòa quân sự trung ương: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục xét xử.
- Đối với bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị chưa giải quyết: Bản án sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01/06/2015 mà chưa giải quyết xong thì giao cho Tòa án nhân dân cấp cao theo lãnh thổ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Đối với đơn khiếu nại, đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chưa giải quyết:
- Đơn thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh, Tòa quân sự quân khu: Giao cho Tòa án nhân dân cấp cao theo lãnh thổ hoặc Tòa án quân sự trung ương giải quyết.
- Đơn đối với bản án của Tòa cấp tỉnh thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao: Giao cho Tòa án nhân dân cấp cao theo lãnh thổ giải quyết.
- Đơn đối với bản án của Tòa phúc thẩm tối cao, các Tòa chuyên trách tối cao, Tòa quân sự trung ương thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao: Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục giải quyết.
- Chế độ chính sách: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Thẩm phán cao cấp tiếp tục hưởng chế độ lương, phụ cấp hiện hành của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho đến khi có quy định mới.
4. Tổ chức thực hiện và rà soát văn bản quy phạm pháp luật (Điều 3)
Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, công tác tổ chức thực hiện được phân công cụ thể:
- Rà soát văn bản pháp luật: Tòa án nhân dân tối cao chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát toàn bộ các văn bản pháp luật liên quan đến Luật tổ chức Tòa án nhân dân để chủ động hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo thẩm quyền; đồng thời kiến nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ thực hiện các điều chỉnh tương ứng.
- Trách nhiệm thi hành: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Nghị quyết số: 81/2014/QH13 | Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2014 |
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
QUYẾT NGHỊ:
Kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2015 đến ngày Luật tổ chức Tòa án nhân dân có hiệu lực thi hành:
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm rà soát, chuẩn bị về tổ chức bộ máy, nhân sự, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân;
2. Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hết nhiệm kỳ kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến ngày 01 tháng 6 năm 2015;
3. Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp hết nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi được xem xét, bổ nhiệm theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân trước ngày 30 tháng 9 năm 2015;
4. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4, Điều 24, Điều 70, Điều 71, Điều 72, khoản 2 Điều 95 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết:
a) Phê chuẩn tổ chức bộ máy; nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao;
c) Quyết định biên chế, số lượng Thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp cao;
d) Ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia;
đ) Quyết định danh sách Ủy viên Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia;
5. Căn cứ quy định tại Điều 34, điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 41, khoản 1 Điều 45, Điều 46, khoản 4 Điều 51, khoản 3 Điều 55, khoản 3 Điều 58, Điều 73 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:
Quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ máy giúp việc trong các Tòa án quân sự sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;
6. Căn cứ quy định tại Điều 67, khoản 4 Điều 68 (trừ điểm a và điểm c), khoản 1 Điều 69 (trừ điểm a) và các quy định khác có liên quan của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm:
b) Trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định bổ nhiệm Thẩm phán cao cấp đối với các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã được bổ nhiệm trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 nhưng không được bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân.
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã được bổ nhiệm trước ngày Luật tổ chức Tòa án nhân dân có hiệu lực đã có thời gian làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dưới 05 năm nay được bổ nhiệm Thẩm phán cao cấp thì được coi là đã giữ ngạch Thẩm phán cao cấp đủ 05 năm.
Kể từ ngày Luật tổ chức Tòa án nhân dân có hiệu lực:
1. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn cho Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được thành lập theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân thực hiện.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban thẩm phán Tòa án quân sự trung ương xét xử bằng Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán theo quy định của các luật tố tụng hiện hành.
Việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán, của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương với Hội đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán được thực hiện khi có quy định của các luật tố tụng mới;
2. Các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao thẩm quyền xét xử phúc thẩm; các Tòa hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chuyển giao thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cho các Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thực hiện;
3. Các Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương chuyển giao thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cho Tòa án quân sự trung ương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương.
Các Tòa án quân sự tiếp tục thực hiện thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, quy định tại các điều 3, 4, 5, khoản 1 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự cho đến khi có quy định của Bộ luật tố tụng hình sự mới thay thế các quy định hiện hành này phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân;
4. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án gồm cả Tòa án nhân dân cấp cao.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Chánh án Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực;
5. Thẩm quyền xét xử của Tòa gia đình và người chưa thành niên được thực hiện theo quy định của các luật tố tụng mới;
6. Đối với những bản án, quyết định của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực đã bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà vụ án chưa được xét xử thì giao cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
7. Đối với những bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm của các Tòa hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động Tòa án nhân dân tối cao nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà vụ án chưa được xét xử thì giao cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hoặc tái thẩm;
8. Đối với những bản án, quyết định của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, những quyết định của các Tòa hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động Tòa án nhân dân tối cao, của Tòa án quân sự trung ương đã bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; tái thẩm nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà vụ án chưa được xét xử thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
9. Đối với những bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa chuyển hồ sơ hoặc đã chuyển hồ sơ cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nhưng chưa được giải quyết thì giao cho Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm;
10. Đối với các đơn khiếu nại, đề nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà chưa được giải quyết thì giao cho Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ, Tòa án quân sự trung ương giải quyết;
11. Đối với các đơn khiếu nại, đề nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà chưa được giải quyết thì giao cho Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết;
12. Đối với các đơn khiếu nại, đề nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà chưa được giải quyết thì Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục giải quyết;
13. Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao cấp được hưởng chế độ lương và phụ cấp của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của pháp luật hiện hành cho đến khi có chế độ lương và phụ cấp mới.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2014.
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Nghị quyết về việc quy định một số điểm về việc thi hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân do Quốc hội ban hành
- 2Nghị quyết 82/2014/QH13 về thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 do Quốc hội ban hành
- 3Công văn 52/TANDTC-PC năm 2016 về rà soát, lập hồ sơ đề nghị tổ chức Tòa chuyên trách theo Thông tư 01/2016/TT-CA do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 4Nghị quyết 96/2019/QH14 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án do Quốc hội ban hành
- 5Công văn 735A/TANDTC-TCCB năm 2023 trả lời kiến nghị của cử tri do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 6Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024
- 1Nghị quyết về việc quy định một số điểm về việc thi hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân do Quốc hội ban hành
- 2Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự năm 2002
- 3Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003
- 4Hiến pháp 2013
- 5Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014
- 6Nghị quyết 82/2014/QH13 về thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 do Quốc hội ban hành
- 7Chỉ thị 04/2014/CT-CA về triển khai thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 8Công văn 52/TANDTC-PC năm 2016 về rà soát, lập hồ sơ đề nghị tổ chức Tòa chuyên trách theo Thông tư 01/2016/TT-CA do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 9Nghị quyết 96/2019/QH14 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án do Quốc hội ban hành
- 10Công văn 735A/TANDTC-TCCB năm 2023 trả lời kiến nghị của cử tri do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 11Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024
Nghị quyết 81/2014/QH13 thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: 81/2014/QH13
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 24/11/2014
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 43 đến số 44
- Ngày hiệu lực: 24/11/2014
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
