Nghị quyết 56/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng quy định chi tiết về lộ trình thi hành, các biện pháp chuyển tiếp và phân công trách nhiệm của các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm việc triển khai Luật tố tụng hành chính được thống nhất, hiệu quả trên phạm vi cả nước.
- Hiệu lực thi hành của Luật tố tụng hành chính
Luật tố tụng hành chính năm 2010 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Mốc thời gian này là căn cứ pháp lý cốt lõi để phân định thẩm quyền và áp dụng pháp luật tố tụng giữa quy định cũ và quy định mới.
- Quy định chuyển tiếp trong giai đoạn từ ngày công bố đến ngày Luật có hiệu lực
Trong khoảng thời gian chuyển tiếp từ ngày Luật tố tụng hành chính được công bố đến trước ngày Luật chính thức có hiệu lực (ngày 01 tháng 7 năm 2011), việc áp dụng pháp luật đối với thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện như sau:
- Đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật tố tụng hành chính được công bố: Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 69 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
- Đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật tố tụng hành chính được công bố: Thời hạn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, cũng như thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ áp dụng theo các quy định mới tại các điều 211, 215 và 236 của Luật tố tụng hành chính.
- Về mặt thủ tục tố tụng: Toàn bộ thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với cả hai trường hợp nêu trên đều phải thực hiện thống nhất theo các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
- Quy định áp dụng pháp luật kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực
Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, việc giải quyết các vụ án hành chính tại Tòa án các cấp tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc chuyển tiếp sau:
- Đối với vụ án hành chính đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2011 nhưng kể từ ngày này mới tiến hành xét xử sơ thẩm thì áp dụng quy định của Luật tố tụng hành chính để giải quyết.
- Đối với vụ án hành chính đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2011 và có kháng cáo, kháng nghị, nhưng kể từ ngày này mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng quy định của Luật tố tụng hành chính để giải quyết.
- Đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2011 nhưng kể từ ngày này mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng quy định của Luật tố tụng hành chính để giải quyết.
- Đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong giai đoạn từ ngày công bố Luật đến trước ngày Luật có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có thẩm quyền, thì việc thực hiện kháng nghị sau đó phải tuân thủ theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Đối với vụ án hành chính đã được xét xử và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2011, nếu kể từ ngày này mới thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị vẫn phải áp dụng theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
- Về thi hành án: Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2011 nhưng đến ngày này vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì sẽ được tổ chức thi hành theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Quy định đặc biệt về quyền khởi kiện tranh chấp đất đai
Nghị quyết quy định một cơ chế chuyển tiếp đặc biệt nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân trong lĩnh vực quản lý đất đai:
- Đối tượng áp dụng: Người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2011.
- Điều kiện khởi kiện: Nếu khiếu nại đó không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại.
- Thời hạn thực hiện quyền khởi kiện: Người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật tố tụng hành chính trong thời hạn tối đa là 01 năm kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (tức là từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2012).
- Công tác tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành
Để bảo đảm các quy định của Luật tố tụng hành chính được triển khai đồng bộ và hiệu quả, Quốc hội giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan có thẩm quyền:
- Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phải khẩn trương củng cố cơ sở vật chất; thực hiện công tác bổ sung, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ công chức của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự nhằm đáp ứng đầy đủ năng lực giải quyết các vụ án và thi hành án hành chính.
- Các cơ quan nêu trên có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật tố tụng hành chính trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
- Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm thực hiện và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết Nghị quyết này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Nghị quyết số: 56/2010/QH12 | Hà Nội,ngày 24 tháng 11 năm 2010 |
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
QUYẾT NGHỊ:
Luật tố tụng hành chính được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Điều 2
1. Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính được công bố đến ngày Luật này có hiệu lực:
a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật tố tụng hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 69 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;
b) Thời hạn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật tố tụng hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại các điều 211, 215 và 236 của Luật tố tụng hành chính;
2. Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực:
a) Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm thì áp dụng Luật tố tụng hành chính để giải quyết;
b) Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử sơ thẩm trước ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực mà có kháng cáo, kháng nghị, nhưng kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng Luật tố tụng hành chính để giải quyết;
c) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực nhưng kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Luật tố tụng hành chính để giải quyết;
d) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời gian kể từ ngày Luật tố tụng hành chính được công bố cho đến ngày Luật này có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có thẩm quyền, thì việc kháng nghị được thực hiện theo Luật tố tụng hành chính;
3. Đối với các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực, nhưng đến ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì được thi hành theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Điều 4
1. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình khẩn trương củng cố cơ sở vật chất; bổ sung, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với đội ngũ công chức của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự để bảo đảm đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án và thi hành án hành chính khi Luật tố tụng hành chính có hiệu lực thi hành.
2. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật tố tụng hành chính trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng của Luật tố tụng hành chính trong bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
3. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Nghị quyết 56/2010/QH12 về thi hành Luật tố tụng hành chính do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: 56/2010/QH12
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 24/11/2010
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 169 đến số 170
- Ngày hiệu lực: 24/11/2010
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2016
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
