Giới thiệu chung về Nghị quyết 40/2012/QH13
Nghị quyết số 40/2012/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 23 tháng 11 năm 2012. Đây là văn bản pháp lý quan trọng ghi nhận kết quả chất vấn và trả lời chất vấn, đồng thời xác định các giải pháp cụ thể, mang tính cam kết của Chính phủ, các Bộ trưởng và Trưởng ngành trước Quốc hội và cử tri cả nước nhằm giải quyết các vấn đề nóng bỏng của nền kinh tế - xã hội thời điểm đó.
Các nội dung chính sách và giải pháp trọng tâm của Nghị quyết
1. Lĩnh vực Ngân hàng và Tiền tệ
Quốc hội yêu cầu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng hợp lý:
- Kiểm soát nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống tín dụng: Khẩn trương triển khai Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng; phân loại và đánh giá chính xác thực trạng nợ xấu; thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém bằng các biện pháp thích hợp, bảo đảm an toàn hệ thống và quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.
- Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt: Điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Quản lý thị trường vàng và ngoại hối: Thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng; từng bước ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng vàng hóa, đô la hóa trong nền kinh tế.
2. Lĩnh vực Xây dựng và Thị trường Bất động sản
Bộ trưởng Bộ Xây dựng phối hợp với các bộ, ngành liên quan tập trung tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản gắn với thực hiện chiến lược nhà ở quốc gia:
- Tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản: Rà soát, phân loại các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị để có giải pháp xử lý phù hợp; chuyển đổi các dự án nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội hoặc nhà ở có diện tích nhỏ, giá bán hợp lý.
- Phát triển nhà ở xã hội: Ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, học sinh, sinh viên và người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị.
- Tăng cường quản lý chất lượng công trình: Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, đặc biệt là các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
3. Lĩnh vực Y tế và Chăm sóc Sức khỏe Nhân dân
Bộ trưởng Bộ Y tế tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc trong công tác khám, chữa bệnh và quản lý dược phẩm:
- Giảm quá tải bệnh viện: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án giảm quá tải bệnh viện; đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hệ thống y tế cơ sở và các bệnh viện tuyến dưới; phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh.
- Nâng cao y đức và chất lượng dịch vụ: Tăng cường giáo dục y đức, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh; hoàn thiện cơ chế tài chính y tế, điều chỉnh giá dịch vụ y tế gắn liền với nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.
- Quản lý giá thuốc và chất lượng dược phẩm: Thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu thầu thuốc để hạ giá thuốc; tăng cường thanh tra, kiểm tra chất lượng thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng; kiểm soát chặt chẽ hoạt động quảng cáo trong lĩnh vực y tế.
4. Lĩnh vực Khoa học và Công nghệ
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống:
- Đổi mới cơ chế tài chính: Chuyển đổi mạnh mẽ các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; áp dụng phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng đối với các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học.
- Thúc đẩy ứng dụng công nghệ: Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh; phát triển thị trường công nghệ và các dịch vụ dịch thuật, chuyển giao công nghệ.
Tổ chức thực hiện và giám sát
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Trưởng ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc các cam kết trước Quốc hội và cử tri; báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện tại các kỳ họp sau. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Nghị quyết số: 40/2012/QH13 | Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2012 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN TẠI KỲ HỌP THỨ 4, QUỐC HỘI KHÓA XIII
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Căn cứ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11; Nghị quyết số 07/2002/QH11 ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội;
Trên cơ sở kết quả chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XIII;
QUYẾT NGHỊ:
I. Quốc hội nhận thấy phiên chất vấn đã diễn ra dân chủ, công khai, nhận được sự quan tâm theo dõi, giám sát của đồng bào và cử tri cả nước. Đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi thẳng thắn, xây dựng, tập trung vào những vấn đề lớn, nội dung phong phú và sắc sảo. Các thành viên Chính phủ tập trung trả lời vào nội dung các câu hỏi, giải đáp hầu hết các vấn đề đặt ra, đưa ra được các giải pháp cần thiết; đồng thời nghiêm túc nhận trách nhiệm liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.
II. Quốc hội ghi nhận các giải pháp tích cực mà Thủ tướng Chính phủ và các thành viên của Chính phủ đã cam kết trước Quốc hội. Quốc hội yêu cầu:
1. Bộ trưởng Bộ Công thương tiếp tục có các biện pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài; khuyến khích tiêu dùng hàng hóa trong nước sản xuất, quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu hàng hóa, hạn chế nhập siêu, chống buôn lậu, hàng lậu; giải quyết hàng tồn kho, bảo đảm sang năm 2013 hàng tồn kho sẽ giảm dần theo cơ cấu ngành; góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, khơi thông nguồn hàng, tăng trưởng kinh tế, bảo đảm nâng cao đời sống của nhân dân.
Bộ Công thương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát quy hoạch tổng thể về thủy điện để báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10-11/2013), trong đó xác định rõ các dự án phải dừng, các dự án phải điều chỉnh, các dự án được tiếp tục triển khai; có biện pháp bảo đảm an toàn tuyệt đối các công trình thủy điện, trồng rừng thay thế. Trong năm 2013, Chính phủ ban hành chính sách đặc thù cho đồng bào vùng tái định cư các công trình thủy điện; tập trung giải quyết vấn đề đền bù, tái định cư các công trình thủy điện, bao gồm cả những tồn tại, vướng mắc của các dự án thủy điện Hòa Bình, Sơn La.
2. Bộ trưởng Bộ Xây dựng tập trung giải quyết tình trạng đóng băng của thị trường bất động sản, xử lý đất bỏ hoang, điều chỉnh cơ cấu thị trường, cân đối cung cầu và xử lý nợ xấu; có kế hoạch giải quyết vấn đề nhà ở xã hội, nhà ở cho sinh viên, người lao động có thu nhập thấp; bảo đảm từ nay đến cuối năm 2013 tạo được sự chuyển biến tích cực trong lĩnh vực này.
Bộ Xây dựng phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra việc bảo đảm chất lượng các công trình xây dựng, xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, rút ruột công trình trong xây dựng công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thủy lợi; khẩn trương xây dựng, trình Quốc hội ban hành Luật quản lý đô thị, có kế hoạch rà soát tổng thể công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch trong cả nước để có những điều chỉnh cần thiết.
Từ nay đến hết năm 2013, hoàn thành việc xây dựng, bổ sung, điều chỉnh các định mức kinh tế - kỹ thuật, các loại đơn giá đầu tư, đơn giá xây dựng để làm cơ sở cho việc quyết định đầu tư và thanh quyết toán công trình được kịp thời, công khai, minh bạch; tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh để hạ giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh của ngành xây dựng Việt Nam.
3. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tập trung điều hành chính sách tiền tệ. Năm 2013, tạo cho được chuyển biến tích cực trong việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính gắn với thị trường chứng khoán, thị trường tài chính, bảo đảm đến năm 2015 có một hệ thống ngân hàng lành mạnh.
Điều hành hoạt động của thị trường tín dụng, bảo đảm cung ứng vốn cho sản xuất những ngành sản xuất, mặt hàng quan trọng, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế; đồng thời kiềm chế lạm phát theo chỉ tiêu đã được Quốc hội xác định; cơ cấu lại hệ thống ngân hàng phải gắn với giải quyết chất lượng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, công ty tài chính và giải quyết nợ xấu, giảm nợ xấu.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm những tiêu cực trong hoạt động ngân hàng, thị trường tiền tệ, thị trường vàng. Làm tốt công tác quản lý nhà nước đối với thị trường vàng; bảo đảm lợi ích của người dân; không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán trong nền kinh tế.
4. Bộ trưởng Bộ Y tế triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân từ cấp xã đến cấp trung ương, tạo chuyển biến trong việc nâng cao y đức trong ngành y tế; khắc phục những tồn tại, yếu kém trong quản lý khám, chữa bệnh, nhất là dịch vụ khám, chữa bệnh tư nhân. Trong năm 2013, tăng cường quản lý thuốc, giá thuốc, viện phí để bảo đảm chi phí hợp lý, có lộ trình phù hợp với điều kiện và thu nhập của người dân.
Bộ Y tế chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương bảo đảm quản lý tốt vệ sinh an toàn thực phẩm; từ nay đến hết năm 2013 phải tạo được sự chuyển biến tích cực trong việc ngăn chặn thực phẩm nhập lậu, thực phẩm kém chất lượng, không rõ nguồn gốc và không bảo đảm vệ sinh, góp phần nâng cao chất lượng thực phẩm tiêu dùng cho người dân.
Ngành y tế phải nỗ lực có biện pháp tích cực, hiệu quả để giảm dần tình trạng mất cân bằng giới tính trẻ sơ sinh.
III. Quốc hội đánh giá cao những kết quả bước đầu trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết về chất vấn của Quốc hội tại các kỳ họp thứ 2 và thứ 3 của Chính phủ, 9 thành viên Chính phủ. Đề nghị Chính phủ, các thành viên Chính phủ tiếp tục có kế hoạch thực hiện các nội dung đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại các kỳ họp trước và kỳ họp này một cách có kết quả và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 5.
IV. Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét những nội dung cần thiết được đại biểu Quốc hội quan tâm để tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức các phiên họp giải trình của các Bộ trưởng, Trưởng ngành về những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách hoặc được cử tri kiến nghị và đại biểu Quốc hội chất vấn. Các đại biểu Quốc hội dành thời gian tham dự các phiên chất vấn và giải trình, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan khẩn trương, nghiêm túc giải quyết, trả lời 1396 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi đến Quốc hội tại kỳ họp này và các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 3 chưa được giải quyết, trả lời.
V. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Y tế, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ liên quan; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan, tổ chức hữu quan, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2012.
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Nghị quyết 21/2011/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII do Quốc hội ban hành
- 2Nghị quyết 30/2012/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII
- 3Nghị quyết 52/2013/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Nghị quyết số 07/2002/NQ-QH11 về việc ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội do Quốc hội ban hành
- 4Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003
- 5Nghị quyết 21/2011/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII do Quốc hội ban hành
- 6Nghị quyết 30/2012/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII
- 7Nghị quyết 52/2013/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII
Nghị quyết 40/2012/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII
- Số hiệu: 40/2012/QH13
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 23/11/2012
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 753 đến số 754
- Ngày hiệu lực: 23/11/2012
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
