Nghị quyết 123/NQ-CP năm 2026 của Chính phủ thông qua các chính sách cốt lõi trong đề nghị xây dựng Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Đây là văn bản pháp lý quan trọng định hướng cho việc sửa đổi toàn diện Luật Nuôi con nuôi nhằm bảo vệ quyền lợi tốt nhất của trẻ em, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người dân.
- Thông qua 03 chính sách cốt lõi của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
Chính phủ cơ bản thống nhất thông qua 03 chính sách lớn được đề xuất tại Tờ trình số 58/TTr-BTP ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ Tư pháp, cụ thể bao gồm:
- Chính sách 1: Quy định chặt chẽ điều kiện giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi và điều kiện của người nhận con nuôi.
- Quy định rõ thẩm quyền xác nhận điều kiện của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi.
- Xác định rõ thẩm quyền cũng như các yêu cầu đối với việc giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi trong nước.
- Làm rõ hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi và bổ sung các căn cứ cụ thể để chấm dứt việc nuôi con nuôi.
- Bổ sung quy định về việc thu hồi, hủy bỏ các giấy tờ về nuôi con nuôi trong những trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm việc giải quyết nuôi con nuôi được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Chính sách 2: Phát triển hoạt động công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết nuôi con nuôi và theo dõi tình hình phát triển của trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi
- Huy động tối đa đội ngũ công chức, viên chức, người lao động làm công tác xã hội trong các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập tham gia hỗ trợ giải quyết nuôi con nuôi.
- Nâng cao vai trò của công tác xã hội trong việc đồng hành, hỗ trợ thủ tục và theo dõi sát sao quá trình phát triển của trẻ sau khi được nhận làm con nuôi.
- Chính sách 3: Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn với tăng cường phân cấp, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo thuận lợi cho người dân
- Phân cấp thẩm quyền từ Bộ Tư pháp về cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc xác nhận công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đủ điều kiện nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.
- Cho phép người nhận con nuôi được nộp hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi trong nước mà không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc.
- Cắt giảm gánh nặng giấy tờ cho người dân bằng quy định cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm tự khai thác dữ liệu có sẵn trên hệ thống thay vì yêu cầu người dân phải nộp giấy tờ bản cứng.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực nuôi con nuôi.
- Phân công trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện dự án Luật
Để nhanh chóng thể chế hóa các chính sách nêu trên vào dự thảo Luật, Chính phủ phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan và cá nhân liên quan:
- Bộ Tư pháp: Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá kỹ tác động của các chính sách để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) để trình Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.
- Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng và hoàn thiện dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Thủ trưởng các cơ quan liên quan: Chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc Nghị quyết này.
- Hiệu lực thi hành
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 123/NQ-CP | Hà Nội, ngày 06 tháng 5 năm 2026 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT NUÔI CON NUÔI (SỬA ĐỔI)
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 19 tháng 02 năm; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 25 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025);
Theo đề nghị của Bộ Tư pháp tại Tờ trình số 58/TTr-BTP ngày 24 tháng 4 năm 2026 về chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi);
Trên cơ sở biểu quyết của các Thành viên Chính phủ.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Thông qua 03 chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) nêu tại Tờ trình số 58/TTr-BTP ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ Tư pháp, cụ thể như sau:
- Đối với chính sách 1 về quy định chặt chẽ điều kiện giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, Chính phủ cơ bản thống nhất theo hướng sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện của người được nhận làm con nuôi; điều kiện của người nhận con nuôi; thẩm quyền xác nhận điều kiện của người được nhận làm con nuôi, người nhận con nuôi; thẩm quyền, yêu cầu đối với việc giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi trong nước; hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; bổ sung căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi; bổ sung quy định về thu hồi, hủy bỏ giấy tờ về nuôi con nuôi trong những trường hợp cần thiết và các nội dung khác có liên quan nhằm bảo đảm việc giải quyết nuôi con nuôi được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi.
- Đối với chính sách 2 về phát triển hoạt động công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết nuôi con nuôi và theo dõi tình hình phát triển của trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi, Chính phủ cơ bản thống nhất theo hướng: Huy động công chức, viên chức, người lao động làm công tác xã hội trong các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tham gia hỗ trợ giải quyết nuôi con nuôi.
- Đối với chính sách 3 về tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn với tăng cường phân cấp, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo thuận lợi cho người dân, Chính phủ cơ bản thống nhất theo hướng: phân cấp thẩm quyền từ Bộ Tư pháp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện xác nhận công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đủ điều kiện nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi; cho phép người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi trong nước không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên toàn quốc; cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm khai thác dữ liệu có sẵn thay thế việc yêu cầu người dân phải nộp giấy tờ; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
Điều 2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ (gửi kèm); tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá kỹ tác động của các chính sách để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; hoàn thiện nội dung các chính sách, trên cơ sở đó chủ động tổ chức xây dựng dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) theo quy định, trình Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.
Điều 3. Phân công Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
Điều 4. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 5. Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Thủ trưởng các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này./.
|
| TM. CHÍNH PHỦ |
BẢNG TỔNG HỢP
KẾT QUẢ LẤY Ý KIẾN THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ
Về: Hồ sơ chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
1. Chính sách 1: Quy định chặt chẽ điều kiện giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi.
| Phương án | Số lượng TVCP lựa chọn |
| Đồng ý | 24 |
| Không đồng ý | 0 |
| Ý kiến khác: | |
2. Chính sách 2: Phát triển hoạt động công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết nuôi con nuôi và theo dõi tình hình phát triển của trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi.
| Phương án | Số lượng TVCP lựa chọn |
| Đồng ý | 24 |
| Không đồng ý | 0 |
| Ý kiến khác: - Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình: Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá kĩ lưỡng nguồn nhân lực thực hiện: đội ngũ làm công tác xã hội hiện nay có được thực hiện tư vấn tâm lý không? Nếu đội ngũ đó chưa đủ điều kiện thực hiện tư vấn tâm lý thì việc đào tạo, cấp chứng chỉ chuyên môn về tâm lý học cho đội ngũ làm công tác xã hội như thế nào để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới về nuôi con nuôi? | |
3. Chính sách 3: Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn với tăng cường phân cấp, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo thuận lợi cho người dân.
| Phương án | Số lượng TVCP lựa chọn |
| Đồng ý | 24 |
| Không đồng ý | 0 |
| Ý kiến khác: | |
4. Thông qua dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
| Phương án | Số lượng TVCP lựa chọn |
| Đồng ý | 24 |
| Không đồng ý | 0 |
| Ý kiến khác: - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, các Phó Thủ tướng Chính phủ: Phan Văn Giang, Nguyễn Văn Thắng: Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá kỹ tác động của các chính sách để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; hoàn thiện nội dung các chính sách, trên cơ sở đó chủ động tổ chức xây dựng dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) theo quy định, trình Chính phủ trong tháng 6 năm 2026. - Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang: Tại Điều 2 dự thảo Nghị quyết, đối với Chính sách 2 về phát triển hoạt động công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết nuôi con nuôi và theo dõi tình hình phát triển của trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi, đề nghị nêu cụ thể các hoạt động mà người làm công tác xã hội được tham gia thực hiện để có cơ sở xây dựng dự thảo Luật được rõ ràng, thống nhất. - Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn: về điều kiện bảo đảm về kinh phí để tổ chức thi hành chính sách khi được thông qua, Bộ Tài chính nhận thấy hồ sơ các chính sách đã bổ sung thêm chính sách mới so với Luật hiện hành, do đó sẽ phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước (như bổ sung quy định về phần mềm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên toàn quốc; Công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật...). Tuy nhiên, tại Tờ trình chính sách Bộ Tư pháp chưa dự kiến cụ thể nguồn lực tài chính càn thiết khi chính sách được thông qua; cần thuyết minh rõ kinh phí (kinh phí của cơ quan trung ương, địa phương; ...), khả năng cân đối của ngân sách, nguồn kinh phí để tổ chức, thi hành, trên cơ sở đó mới có căn cứ đánh giá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước chi cho nhiệm vụ này, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo, trình Chính phủ xem xét, quyết định./. | |
- 1Luật nuôi con nuôi 2010
- 2Nghị định 39/2022/NĐ-CP về Quy chế làm việc của Chính phủ
- 3Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025
- 4Luật Tổ chức Chính phủ 2025
- 5Nghị định 78/2025/NĐ-CP hướng dẫn và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- 6Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2025
- 7Nghị định 187/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 78/2025/NĐ-CP hướng dẫn và biện pháp để tổ chức Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định 79/2025/NĐ-CP về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Nghị quyết 123/NQ-CP năm 2026 về chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) do Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 123/NQ-CP
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 06/05/2026
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Lê Tiến Châu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/05/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
