Nghị định thư sửa đổi công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển (thường gọi là Nghị định thư VISBY 1968) được ký kết tại Brussels vào ngày 23 tháng 02 năm 1968. Đây là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều khoản cốt lõi của Công ước Brussels 1924 (Công ước Hague) về vận đơn đường biển, nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của người chuyên chở, giới hạn bồi thường và phạm vi áp dụng trong hoạt động vận tải biển quốc tế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị định thư
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho mọi vận đơn liên quan đến việc chuyên chở hàng hóa giữa các cảng ở hai quốc gia khác nhau, thay thế cho các quy định cũ nhằm mở rộng và làm rõ các trường hợp áp dụng luật định quốc tế đối với vận đơn đường biển.
- Đối tượng áp dụng: Người chuyên chở, tàu, người gửi hàng, người nhận hàng, người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở, và các bên liên quan trực tiếp đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có phát hành vận đơn.
Sửa đổi quy định về chứng cứ và thời hạn khiếu nại (Điều 1)
- Giá trị pháp lý của vận đơn đối với bên thứ ba: Khi vận đơn đã được chuyển nhượng cho một bên thứ ba hành động với thiện ý, mọi chứng minh ngược lại với nội dung ghi trên vận đơn đều không được thừa nhận. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba nhận vận đơn.
- Thời hạn khởi kiện đòi bồi thường: Người chuyên chở và tàu được giải thoát khỏi mọi trách nhiệm đối với hàng hóa trong mọi trường hợp, trừ khi việc kiện cáo được tiến hành trong vòng một năm kể từ ngày giao hàng hoặc từ ngày đáng lẽ hàng phải được giao. Tuy nhiên, các bên có quyền thỏa thuận kéo dài thời hạn này sau khi nguyên nhân kiện cáo phát sinh.
- Thời hạn kiện đòi người thứ ba bồi hoàn: Việc kiện tụng đòi một người thứ ba bồi thường vẫn có thể được thực hiện sau khi hết thời hạn một năm nêu trên, miễn là được tiến hành trong thời gian mà luật pháp của Tòa án thụ lý vụ việc cho phép. Thời gian cho phép này không được ít hơn 3 tháng kể từ ngày người đứng ra kiện đòi bồi thường đã thanh toán khiếu nại hoặc đã nhận được đơn kiện chống lại chính mình.
Giới hạn trách nhiệm bồi thường của người chuyên chở (Điều 2)
- Mức giới hạn bồi thường tối đa: Trừ khi tính chất và giá trị của hàng hóa đã được người gửi hàng khai báo trước khi xếp hàng và được ghi nhận vào vận đơn, người chuyên chở và tàu không phải chịu trách nhiệm bồi thường vượt quá 10.000 francs cho mỗi kiện hoặc đơn vị, hoặc 30 francs cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của hàng hóa bị mất mát, hư hỏng, tùy theo cách tính nào có giá trị cao hơn.
- Phương pháp tính toán giá trị hàng hóa: Tổng số tiền bồi thường được tính toán dựa trên giá trị của hàng hóa tại địa điểm và thời điểm hàng được dỡ khỏi tàu (hoặc đáng lẽ phải dỡ) theo đúng hợp đồng. Trị giá hàng hóa được xác định theo giá của sở giao dịch hàng hóa; nếu không có giá này thì tính theo giá thị trường hiện hành; nếu vẫn không có hai mức giá trên thì tham khảo giá trị bình thường của hàng hóa cùng loại và cùng chất lượng.
- Quy định đối với công cụ gom hàng (Container, Pallet): Khi sử dụng container, pallet hoặc các công cụ vận tải tương tự để gom hàng, số kiện hoặc đơn vị được liệt kê cụ thể trong vận đơn sẽ được coi là các kiện hoặc đơn vị để tính giới hạn trách nhiệm. Nếu vận đơn không liệt kê cụ thể, toàn bộ công cụ vận tải đó sẽ được tính là một kiện hoặc một đơn vị duy nhất.
- Định nghĩa đơn vị tiền tệ Franc: Một Franc được hiểu là một đơn vị gồm 65,5 miligam vàng có độ nguyên chất 900/1000. Ngày quy đổi số tiền bồi hoàn ra đồng tiền quốc gia sẽ do luật của Tòa án thụ lý vụ việc điều chỉnh.
- Mất quyền hưởng giới hạn trách nhiệm: Người chuyên chở và tàu sẽ mất quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường nếu bên khiếu nại chứng minh được rằng tổn thất xảy ra là do hành vi cố ý gây thiệt hại hoặc do sự cẩu thả của người chuyên chở dù biết rằng tổn thất có thể xảy ra.
- Thỏa thuận tăng mức bồi thường: Các bên có thể thỏa thuận mức giới hạn trách nhiệm cao hơn mức quy định tối thiểu nêu trên, nhưng tuyệt đối không được thỏa thuận mức thấp hơn.
- Miễn trách nhiệm do khai sai: Người chuyên chở và tàu hoàn toàn không chịu trách nhiệm về mất mát, hư hỏng nếu người gửi hàng cố tình khai sai tính chất hoặc trị giá hàng hóa trong vận đơn.
Áp dụng miễn trách và giới hạn trách nhiệm đối với người làm công và đại lý (Điều 3)
- Phạm vi áp dụng đối với các vụ kiện: Các quy định về miễn trách và giới hạn trách nhiệm áp dụng cho mọi vụ kiện đòi người chuyên chở bồi thường về mất mát, hư hỏng hàng hóa thuộc hợp đồng vận tải, bất kể vụ kiện đó được thực hiện trên cơ sở hợp đồng hay ngoài hợp đồng.
- Bảo vệ người làm công và đại lý: Nếu vụ kiện hướng vào người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở (không phải là người ký hợp đồng độc lập), người này có quyền viện dẫn các điều khoản miễn trách và giới hạn trách nhiệm mà người chuyên chở được hưởng theo Công ước.
- Giới hạn bồi thường gộp tối đa: Tổng số tiền bồi thường thu hồi từ người chuyên chở và những người làm công, đại lý của họ trong mọi trường hợp không được vượt quá giới hạn tối đa quy định tại Công ước.
- Ngoại lệ mất quyền giới hạn: Người làm công hoặc đại lý sẽ không được hưởng các quy định giới hạn trách nhiệm nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra là do hành vi cố ý hoặc lỗi cẩu thả của chính họ khi biết rõ thiệt hại có thể xảy ra.
Loại trừ trách nhiệm đối với tổn thất hạt nhân (Điều 4)
- Nghị định thư khẳng định không làm ảnh hưởng đến các quy định của bất kỳ Công ước quốc tế hoặc luật quốc gia nào điều chỉnh về trách nhiệm đối với các tổn thất do sự cố hạt nhân gây ra.
Phạm vi áp dụng chi tiết của Công ước sửa đổi (Điều 5)
Các quy định của Công ước sửa đổi áp dụng cho mọi vận đơn liên quan đến việc chuyên chở hàng hóa giữa các cảng của hai quốc gia khác nhau nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Vận đơn được cấp tại một quốc gia là thành viên tham gia Công ước.
- Hàng hóa được chuyên chở từ một cảng thuộc quốc gia là thành viên tham gia Công ước.
- Hợp đồng ghi trong vận đơn hoặc được chứng minh trong vận đơn quy định rằng các quy tắc của Công ước này hoặc luật pháp của bất kỳ quốc gia nào nội luật hóa Công ước sẽ điều chỉnh hợp đồng.
- Quy định này được áp dụng bất kể quốc tịch của tàu, người chuyên chở, người gửi hàng, người nhận hàng hay bất kỳ bên liên quan nào khác. Mỗi quốc gia thành viên có quyền áp dụng các quy tắc này đối với cả các vận đơn không thuộc các trường hợp nêu trên.
Mối quan hệ giữa Công ước và Nghị định thư (Điều 6 & Điều 7)
- Tính thống nhất: Giữa các bên ký kết Nghị định thư này, Công ước Brussels 1924 và Nghị định thư VISBY 1968 được đọc, hiểu và giải thích cùng nhau như một văn bản pháp lý đơn nhất.
- Giới hạn nghĩa vụ: Một bên ký kết Nghị định thư không có nghĩa vụ áp dụng các quy định của Nghị định thư này đối với các vận đơn được cấp ở một nước là thành viên của Công ước nhưng không phải là thành viên của Nghị định thư này.
- Hiệu lực bãi bỏ: Việc bãi bỏ Công ước gốc theo Điều 15 sẽ không được coi là bãi bỏ Công ước đã được sửa đổi bởi Nghị định thư này.
Cơ chế giải quyết tranh chấp (Điều 8)
- Thương lượng và Trọng tài: Mọi tranh chấp giữa các bên liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước mà không giải quyết được bằng thương lượng sẽ được đưa ra giải quyết bằng trọng tài theo yêu cầu của một trong các bên.
- Thẩm quyền của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ): Nếu trong vòng 6 tháng kể từ ngày có yêu cầu trọng tài mà các bên không thỏa thuận được về việc tổ chức trọng tài, bất kỳ bên nào cũng có thể đưa tranh chấp ra trước Tòa án Công lý Quốc tế bằng một yêu cầu phù hợp với thủ tục của Tòa án này.
Hiệu lực và thông tin lưu trữ
Nghị định thư VISBY 1968 được lập tại Brussels vào ngày 23 tháng 02 năm 1968 bằng hai ngôn ngữ tiếng Pháp và tiếng Anh có giá trị pháp lý ngang nhau. Bản gốc của Nghị định thư được lưu giữ tại Cục Lưu trữ của Chính phủ Vương quốc Bỉ. Các quy định chi tiết về thủ tục ký kết, phê chuẩn, lưu trữ, hiệu lực và bãi ước được quy định cụ thể từ Điều 9 đến Điều 17 của văn bản.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SỬA ĐỔI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ ĐỂ THỐNG NHẤT MỘT SỐ QUY TẮC VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN
(Nghị định thư VISBY 1968)
Các bên ký kết.
Xét thấy cần phải sửa đổi bổ sung cho Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc luật pháp liên quan đến vận đơn, ký tại Brussels ngày 25-08-1924.
Đã thỏa thuận như sau:
Điều 1.
Trong Điều 3. Mục 4, thêm:
“Tuy nhiên, khi vận đơn đã được chuyển sang bên thứ ba hành động với thiện ý thì chứng minh ngược lại sẽ không được thừa nhận”.
2. Trong Điều 3, mục 6, Tiểu mục 4 xóa bỏ và được thay bằng:
“Trừ quy định tại mục 6 bis, người chuyên chở và tàu, trong bất cứ trường hợp nào cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm đối với hàng hóa, trừ khi việc kiện cáo được đưa ra trong vòng một năm kể từ ngày giao hàng hoặc từ ngày đáng lẽ hàng được giao. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn này sau khi nguyên nhân kiện cáo phát sinh”.
3. Trong Điều 3, sau mục 6, thêm mục 6 bis như sau: “Việc kiện tụng đòi một người thứ ba bồi thường có thể đưa ra ngay cả khi hết thời hạn một năm quy định trong mục trên nếu việc đó được đưa ra trong thời gian được luật của Tòa án thụ lý vụ việc cho phép. Tuy nhiên, thời gian cho phép không ít hơn 3 tháng kể từ ngày người đứng ra kiện tụng đòi bồi thường đã thanh toán khiếu nại hoặc đã nhận được đơn kiện mình”.
Điều 2.
Điều 4, mục 5, nay bỏ và thay thế bằng đoạn sau:
“a. Trừ phi tính chất và giá trị của hàng hóa đã được người gửi hàng khai trước khi xếp hàng và được ghi vào vận đơn, cả người chuyên chở và tàu trong bất cứ trường hợp nào đều không chịu trách nhiệm về bất cứ mất mát, hư hỏng nào của hàng hóa hay liên quan đến hàng hóa vượt quá số tiền tương đương với 10.000 francs một kiện hay đơn vị hoặc 30 francs một kilô trọng lượng hàng hóa cả bì bị mất mát hoặc hư hỏng, tùy theo cách tính nào cao hơn.
b. Tổng số tiền bồi thường được tính toán có tham khảo giá trị hàng hóa đó ở địa điểm và vào thời gian hàng được dở khỏi tàu phù hợp với hợp đồng hoặc đáng lẻ đã phải dở như vậy.
Trị giá hàng hóa được ấn định theo giá của sở giao dịch hàng hóa, hoặc nếu không có giá đó, thì theo giá thị trường hiện hành hoặc nếu không có giá của sở giao dịch hay giá thị trường hiện hành thì tham khảo giá trị bình thường của hàng hóa cùng loại và chất lượng.
c. Khi container, palet hay công cụ vận tải tương tự được dùng để gom hàng số kiện hoặc đơn vị liệt kê trong vận đơn và đóng gói trong các công cụ vận tải đó được coi là số kiện hoặc đơn vị để thực hiện quy định của đoạn này trong chừng mực mà những kiện, những đơn vị đó có liên quan. Ngoại trừ như đã nói trên, công cụ vận tải đó được coi là kiện hay đơn vị.
d. Một Francs có nghĩa là một đơn vị gồm 65.5 miligam vàng có độ nguyên chất 900/1000 Ngày quy đổi số tiền bồi hoàn ra tiền quốc gia do luật của Tòa án thụ lý vụ việc điều chỉnh.
e. Cả người chuyên chở và tàu sẽ không có quyền hưởng lợi ích của giới hạn trách nhiệm quy định trong đoạn này nếu có chứng minh được rằng tổn thất xảy ra là do hành vi hoặc thiếu sót của người chuyên chở nhằm gây ra thiệt hại hay đã cẩu thả khi biết rằng tổn thất có thể xảy ra.
f. Lời khai nói trong tiểu mục (a) của mục này, nếu thể hiện trong vận đơn sẽ là bằng chứng hiển nhiên nhưng không ràng buộc và quyết định đối với người chuyên chở.
g. Người chuyên chở, thuyền trưởng hay đại lý của người chuyên chở và người gửi hàng có thể thỏa thuận các mức tiền tối đa khác với mức nêu trong tiểu mục (a) của mục này nhưng không được thấp hơn mức đã nêu trong tiểu mục (a).
h. Người chuyên chở và tàu trong bất cứ trường hợp nào đều không chịu trách nhiệm về mất mát, hư hỏng của hàng hóa hay liên quan đến hàng hóa nếu người gửi hàng đã cố tình khai sai tính chất hoặc trị giá hàng trong vận đơn”.
Điều 3.
Giữa Điều 4 và Điều 5 của Công ước nay đưa thêm Điều 4 bis, như sau:
1. Các miễn trách và giới hạn trách nhiệm quy định trong Công ước này áp dụng trong mọi vụ kiện đòi chuyên chở bồi thường về mất mát hư hỏng của hàng hóa được chuyên chở theo một hợp đồng vận tải dù việc kiện cáo dựa trên cơ sở hợp đồng hay ngoài hợp đồng.
Nếu việc kiện cáo có nhằm vào một người làm công hay đại lý của người chuyên chở (người đó không phải là người ký hợp đồng độc lập), thì người làm công hay đại lý đó có quyền lợi dụng cho mình những miễn trách và giới hạn trách nhiệm mà người chuyên chở có quyền viện dẫn theo Công ước này.
3. Tổng số tiền bồi thường của người chuyên chở và những người làm công và đại lý đó trong mọi trường hợp không vượt quá mức giới hạn quy định trong Công ước này.
4. Tuy nhiên, một người làm công hay đại lý của người chuyên chở sẽ không được hưởng những quy định của điều khoản này nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra là do hành vi hay lỗi lầm của người làm công hay đại lý đó với ý đồ gây ra thiệt hại hoặc cẩu thả mặc dù biết rằng thiệt hại có thể xảy ra”.
Điều 4.
Bỏ Điều 9 của Công ước và thay bằng đoạn sau:
“Công ước này không ảnh hưởng đến những quy định của bất cứ Công ước quốc tế hay luật quốc gia nào điều chỉnh trách nhiệm về tổn thất hạt nhân”.
Điều 5.
Bỏ Điều 10 của Công ước và thay bằng đoạn: “Những quy định của Công ước này áp dụng cho mọi vận đơn liên quan đến việc chuyên chở hàng hóa giữa các cảng ở hai nước khác nhau, nếu:
a. Vận đơn được cấp ở một nước tham gia Công ước, hoặc
b. Hàng chuyên chở từ một cảng của một nước tham gia Công ước hoặc
c. Hợp đồng ghi trong vận đơn hay được chứng minh trong vận đơn quy định rằng các quy tắc của Công ước này hay luật pháp của bất cứ quốc gia nào quy định hiệu lực đối với các quy tắc đó là những quy tắc điều hỉnh hợp đồng, bất kể quốc tịch tàu, người chuyên chở, người gửi hàng, người nhận hàng hay bất cứ người hữu quan nào khác.
Mỗi quốc gia ký Công ước sẽ áp dụng các quy định của Công ước này cho các vận đơn nêu trên.
Điều này không ngăn cản một nước thành viên của Công ước áp dụng các quy tắc của Công ước này vào những vận đơn không nói trong các đoạn trước”.
Điều 6.
Giữa các bên ký Nghị định thư này, Công ước và Nghị định thư được đọc và giải thích cùng nhau như một văn bản đơn nhất.
Một bên ký Nghị định thư không có nghĩa vụ áp dụng các quy định của Nghị định thư này vào các vận đơn được cấp ở một nước là thành viên của Công ước nhưng không phải là thành viên của Nghị định thư này.
Điều 7.
Giữa các bên của Nghị định thư, việc bãi bỏ Công ước theo Điều 15 sẽ không được coi là bãi bỏ Công ước đã được sửa đổi bởi Nghị định thư này.
Điều 8.
Mọi tranh chấp giữa hai hay nhiều bên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước mà không giải quyết được bằng con đường thương lượng, sẽ theo yêu cầu của một trong các bên được đưa ra trọng tài Nếu trong vòng sáu tháng kể từ ngày có yêu cầu về trọng tài mà các bên không thỏa thuận được vấn đề tổ chức trọng tài thì một trong các bên nói trên có thể đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý quốc tế bằng yêu cầu phù hợp với thủ tục của Tòa án này.
(Từ Điều 9 đến Điều 17 là các quy định về thủ tục ký kết, phê chuẩn, lưu trữ, hiệu lực, bãi ước của Nghị định thư v.v… xin xem bản tiếng Anh).
Nghị định thư này làm tại Brussels, ngày 23 tháng 02 năm 1968 bằng tiếng Pháp và tiếng Anh. Hai bản gốc có giá trị như nhau và sẽ được lưu giữ tại Cục Lưu trữ của Chính phủ Bỉ, nơi sẽ phát hành các bản sao.
Nghị định thư sửa đổi công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển (Nghị định thư VISBY 1968)
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 23/02/1968
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
