Nghị định số 70/2013/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý kho vật chứng ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2002. Văn bản này tập trung điều chỉnh các quy định về hệ thống tổ chức kho vật chứng, biên chế nhân sự, quy trình xuất nhập kho, phương thức bảo quản các loại vật chứng đặc biệt và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc quản lý vật chứng phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, dân sự.
Nghị định áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Quân đội), cơ quan thi hành án dân sự, các cơ quan, tổ chức chuyên môn được giao phối hợp bảo quản vật chứng đặc biệt, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động quản lý kho vật chứng trên phạm vi cả nước.
Hệ thống tổ chức kho vật chứng tại các cơ quan chức năng
Nghị định quy định chi tiết về việc xây dựng và tổ chức hệ thống kho vật chứng thuộc các cơ quan Công an, Quân đội và Thi hành án dân sự như sau:
- Trong Công an nhân dân: Mỗi Công an cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và mỗi Công an cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) được xây dựng một kho vật chứng. Riêng ở Bộ Công an được xây dựng hai kho vật chứng (một kho ở phía Bắc và một kho ở phía Nam) để phục vụ công tác điều tra, truy tố các vụ án hình sự. Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền quyết định việc thành lập, quy mô, tiêu chuẩn xây dựng và ban hành nội quy kho vật chứng trong Công an nhân dân.
- Trong Quân đội nhân dân: Mỗi quân khu (và cấp tương đương) cùng Bộ Quốc phòng được tổ chức một kho vật chứng để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo thẩm quyền. Đối với mỗi Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh (bao gồm cả Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và Bộ Tư lệnh thành phố Hồ Chí Minh), một kho vật chứng được tổ chức trong khu vực kho vũ khí, trang bị kỹ thuật để tiếp nhận, bảo quản vật chứng là vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy từ các cơ quan thụ lý vụ án trên địa bàn. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định việc thành lập, quy mô, tiêu chuẩn xây dựng và nội quy kho vật chứng trong Quân đội.
- Trong cơ quan thi hành án dân sự: Mỗi Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh và mỗi Chi cục thi hành án dân sự cấp huyện được tổ chức một kho vật chứng để phục vụ công tác xét xử và thi hành án. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định việc thành lập, quy mô, tiêu chuẩn xây dựng và nội quy kho vật chứng thuộc các cơ quan này.
Quy định về biên chế và nhiệm vụ của nhân sự kho vật chứng
Nghị định bổ sung quy định mới về biên chế kho vật chứng nhằm chuẩn hóa đội ngũ quản lý:
- Cơ cấu biên chế: Biên chế kho vật chứng bao gồm thủ kho vật chứng và bảo vệ kho vật chứng.
- Nhiệm vụ và quyền hạn: Thủ kho vật chứng thực hiện các nhiệm vụ theo quy định pháp luật, đặc biệt là việc thực hiện xuất kho, nhập kho đối với vật chứng, đồ vật, tài liệu khác đã thu thập được của các vụ án theo lệnh của thủ trưởng cơ quan thụ lý vụ án và chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan quản lý kho vật chứng. Nhiệm vụ, quyền hạn của bảo vệ kho vật chứng do thủ trưởng cơ quan quản lý kho vật chứng quy định cụ thể.
- Chế độ chính sách: Thủ kho và bảo vệ kho vật chứng được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật hiện hành.
Quy định nghiêm ngặt về bảo quản các loại vật chứng đặc biệt
Đối với các vật chứng có tính chất đặc thù, nguy hiểm hoặc yêu cầu kỹ thuật bảo quản cao, Nghị định quy định phải niêm phong và gửi bảo quản tại các cơ quan chuyên môn chuyên trách:
- Tiền, giấy tờ có giá, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ: Phải được niêm phong và gửi tại hệ thống Kho bạc Nhà nước cùng cấp nơi cơ quan thụ lý vụ án có trụ sở, tuyệt đối không được phép đưa vào lưu thông.
- Vũ khí quân dụng, chất nổ, chất cháy: Phải được niêm phong và gửi tại kho vũ khí, trang bị kỹ thuật thuộc Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh nơi cơ quan thụ lý vụ án có trụ sở. Đối với các loại vũ khí không phải là vũ khí quân dụng thì tiến hành bảo quản trực tiếp tại các kho vật chứng thông thường.
- Chất độc: Tùy thuộc vào từng loại chất độc cụ thể, tiến hành niêm phong và gửi tại các cơ sở quản lý chuyên môn thuộc các ngành Y tế, Quốc phòng, Công an, Công Thương, hoặc Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn.
- Chất phóng xạ: Phải được niêm phong và gửi tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Động vật và thực vật: Động vật được gửi tại các Vườn thú, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã hoặc các cơ sở chăn nuôi thuộc ngành Nông nghiệp trên địa bàn. Thực vật được gửi tại các cơ quan lâm nghiệp hoặc Công ty cây trồng trên địa bàn.
- Vật chứng liên quan đến lĩnh vực y tế: Các vật chứng là vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại, mẫu máu, mô, bộ phận cơ thể người, vắc xin và các vật chứng khác cần điều kiện bảo quản đặc biệt phải được niêm phong và gửi tại các cơ sở quản lý chuyên môn thuộc ngành Y tế.
- Trách nhiệm tiếp nhận và kinh phí: Các tổ chức chuyên môn nêu trên có trách nhiệm tiếp nhận ngay và bảo quản an toàn vật chứng theo quy định. Kinh phí phục vụ cho việc bảo quản do cơ quan gửi vật chứng chi trả từ nguồn ngân sách nhà nước.
- Trường hợp tạm nhập kho vật chứng: Nếu do điều kiện khách quan chưa thể chuyển giao ngay vật chứng đặc biệt cho các cơ quan chuyên môn, cơ quan đang thụ lý vụ án phải tạm nhập vào kho vật chứng của mình để bảo quản; ngay sau khi khắc phục được trở ngại khách quan phải tiến hành chuyển giao ngay.
Quy trình vận chuyển và trách nhiệm phối hợp quản lý
Công tác vận chuyển vật chứng và trách nhiệm của chính quyền địa phương được quy định rõ ràng nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối:
- Vận chuyển vật chứng: Cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan đang bảo quản vật chứng tổ chức vận chuyển, bảo quản, bảo vệ vật chứng, đồ vật, tài liệu khác từ kho vật chứng này đến kho vật chứng khác hoặc trong quá trình trực tiếp sử dụng để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cấp đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và quản lý kho vật chứng tại địa phương; đồng thời chỉ đạo các cơ quan hữu quan tại địa phương phối hợp chặt chẽ nhằm bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho các kho vật chứng.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 70/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 8 năm 2013. Bộ Công an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện các quy định tại Nghị định này trên phạm vi toàn quốc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 70/2013/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 02 tháng 07 năm 2013 |
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ năm 2001;
Căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ Luật tố tụng hành chính năm 2010;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý kho vật chứng ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2002 của Chính phủ,
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý kho vật chứng ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2002 của Chính phủ:
1.
“1. Mỗi Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, mỗi Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được xây dựng một kho vật chứng; ở Bộ Công an được xây dựng hai kho vật chứng (một ở phía Bắc và một ở phía Nam) để phục vụ công tác điều tra, truy tố các vụ án hình sự.
2. Bộ trưởng Bộ Công an quyết định việc thành lập, quy mô, tiêu chuẩn xây dựng kho vật chứng và quy định nội quy kho vật chứng trong Công an nhân dân.”
2.
“1. Mỗi quân khu (và cấp tương đương) và ở Bộ Quốc phòng được tổ chức một kho vật chứng để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo thẩm quyền trong Quân đội nhân dân; mỗi Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi chung là Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh) được tổ chức một kho vật chứng trong khu vực kho vũ khí, trang bị kỹ thuật thuộc Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh để tiếp nhận, bảo quản vật chứng là vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy từ các cơ quan thụ lý vụ án trên địa bàn.
3.
“1. Mỗi cục thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và mỗi chi cục thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được tổ chức một kho vật chứng để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định việc thành lập, quy mô, tiêu chuẩn xây dựng kho vật chứng và quy định nội quy kho vật chứng thuộc các cơ quan thi hành án dân sự.”
4. Bổ sung
“Điều 6a. Biên chế kho vật chứng
1. Biên chế kho vật chứng bao gồm thủ kho vật chứng và bảo vệ kho vật chứng.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ kho vật chứng được quy định tại Khoản 2 Điều 7 Quy chế này; nhiệm vụ, quyền hạn của bảo vệ kho vật chứng do thủ trưởng cơ quan quản lý kho vật chứng quy định. Thủ kho, bảo vệ kho vật chứng được hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Khoản 4 Điều 7 Quy chế này.”
5. Điểm b Khoản 1 Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“b) Thực hiện việc xuất kho, nhập kho đối với vật chứng, đồ vật, tài liệu khác đã thu thập được của các vụ án theo lệnh của thủ trưởng cơ quan thụ lý vụ án và chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan quản lý kho vật chứng”.
6. Điểm d Khoản 1 Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“d) Vật chứng là tiền, giấy tờ có giá, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, động vật, thực vật và các vật chứng khác liên quan đến lĩnh vực y tế cần có điều kiện bảo quản đặc biệt được bảo quản như sau:
- Tiền, giấy tờ có giá, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ phải được niêm phong và gửi tại hệ thống kho bạc nhà nước cùng cấp nơi cơ quan thụ lý vụ án có trụ sở, tuyệt đối không được phép lưu thông.
- Chất độc (tùy từng loại cụ thể) được niêm phong và gửi tại các cơ sở quản lý về chuyên môn thuộc ngành Y tế, Quốc phòng, Công an, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn.
- Chất phóng xạ được niêm phong và gửi tại Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Động vật được gửi tại các Vườn thú, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã hoặc các cơ sở chăn nuôi thuộc ngành Nông nghiệp trên địa bàn.
- Thực vật được gửi tại các cơ quan lâm nghiệp, Công ty cây trồng trên địa bàn.
- Vật chứng là vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại, mẫu máu, mô, bộ phận cơ thể người, vắc xin và các vật chứng khác liên quan đến lĩnh vực y tế cần có điều kiện bảo quản đặc biệt được niêm phong và gửi tại các cơ sở quản lý về chuyên môn thuộc ngành y tế.
Các tổ chức quy định trên đây có trách nhiệm tiếp nhận ngay, bảo quản an toàn vật chứng, đồ vật, tài liệu theo quy định của pháp luật có liên quan và theo quy định của Quy chế này. Kinh phí phục vụ cho việc bảo quản do cơ quan gửi vật chứng chi từ nguồn ngân sách nhà nước.”
7.
“2. Trường hợp do điều kiện khách quan mà vật chứng, tài sản quy định tại các Điểm d, đ Khoản 1 Điều này chưa thể chuyển giao được ngay thì phải tạm nhập vào kho vật chứng của cơ quan đang thụ lý vụ án để bảo quản; sau khi khắc phục điều kiện khách quan đó thì phải chuyển giao ngay.”
8.
“3. Cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan đang bảo quản vật chứng tổ chức vận chuyển, bảo quản, bảo vệ vật chứng, đồ vật, tài liệu khác thu thập được của vụ án từ kho vật chứng này đến kho vật chứng khác hoặc trong quá trình trực tiếp sử dụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.”
9.
“Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cấp đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và quản lý kho vật chứng tại địa phương mình; chỉ đạo các cơ quan hữu quan ở địa phương phối hợp, bảo đảm an ninh, an toàn cho kho vật chứng.”
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 8 năm 2013.
2. Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị định này.
3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
|
Nơi nhận: | TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Quyết định 226/QĐ-BTP năm 2010 ban hành Quy định về quy mô đầu tư xây dựng và yêu cầu cơ bản đối với phương án thiết kế xây dựng công trình trụ sở làm việc và kho vật chứng cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 2Quyết định 440/QĐ-TTg năm 2011 phê duyệt Đề án Xây dựng trụ sở, kho vật chứng cho cơ quan Thi hành án dân sự và xây dựng cơ sở đào tạo thuộc Bộ Tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW, giai đoạn 2011 – 2015 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Quyết định 275/QĐ-TTg năm 2013 điều chỉnh đề án “Xây dựng trụ sở, kho vật chứng cho cơ quan Thi hành án dân sự và xây dựng cơ sở đào tạo thuộc Bộ Tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW, giai đoạn 2011 - 2015” do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 2Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003
- 3Bộ luật Tố tụng dân sự 2004
- 4Luật thi hành án dân sự 2008
- 5Quyết định 226/QĐ-BTP năm 2010 ban hành Quy định về quy mô đầu tư xây dựng và yêu cầu cơ bản đối với phương án thiết kế xây dựng công trình trụ sở làm việc và kho vật chứng cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 6Luật tố tụng hành chính 2010
- 7Quyết định 440/QĐ-TTg năm 2011 phê duyệt Đề án Xây dựng trụ sở, kho vật chứng cho cơ quan Thi hành án dân sự và xây dựng cơ sở đào tạo thuộc Bộ Tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW, giai đoạn 2011 – 2015 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi 2011
- 9Quyết định 275/QĐ-TTg năm 2013 điều chỉnh đề án “Xây dựng trụ sở, kho vật chứng cho cơ quan Thi hành án dân sự và xây dựng cơ sở đào tạo thuộc Bộ Tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW, giai đoạn 2011 - 2015” do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 10Thông tư 131/2014/TT-BQP về Quy chế quản lý kho vật chứng trong Quân đội do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành ban hành
Nghị định 70/2013/NĐ-CP sửa đổi Quy chế quản lý kho vật chứng kèm theo Nghị định 18/2002/NĐ-CP
- Số hiệu: 70/2013/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 02/07/2013
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 409 đến số 410
- Ngày hiệu lực: 16/08/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
