Nghị định số 65/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động tư vấn pháp luật mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này điều chỉnh các hoạt động tư vấn pháp luật phi lợi nhuận của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm hỗ trợ pháp lý cho các thành viên và đối tượng chính sách. Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư (theo quy định của Pháp lệnh luật sư) và hoạt động của các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản này.
Điều kiện thành lập và cơ cấu tổ chức của Trung tâm tư vấn pháp luật
- Điều kiện thành lập: Tổ chức chủ quản cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương muốn thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật phải đáp ứng đủ hai điều kiện cốt lõi: Có ít nhất 03 tư vấn viên pháp luật đủ tiêu chuẩn theo quy định; và có địa điểm giao dịch, làm việc riêng biệt.
- Tên gọi: Tên của Trung tâm phải thể hiện rõ tên của tổ chức chủ quản. Trường hợp một tổ chức chủ quản thành lập nhiều Trung tâm thì tên gọi của các Trung tâm phải có sự phân biệt rõ ràng.
- Cơ cấu tổ chức: Bộ máy gồm Giám đốc Trung tâm, các tư vấn viên pháp luật, nhân viên khác và lực lượng cộng tác viên tư vấn pháp luật. Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng để giao dịch theo quy định pháp luật.
- Chi nhánh: Trung tâm được phép thành lập chi nhánh trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở chính của tổ chức chủ quản và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hoạt động của chi nhánh này.
Thủ tục đăng ký hoạt động và thay đổi nội dung đăng ký
- Cơ quan tiếp nhận: Trung tâm thực hiện đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở của tổ chức chủ quản.
- Hồ sơ đăng ký: Bao gồm đơn đăng ký hoạt động; quyết định thành lập và điều lệ do tổ chức chủ quản ban hành; quyết định cử Giám đốc; danh sách và hồ sơ năng lực của các tư vấn viên pháp luật dự kiến; giấy tờ chứng minh địa điểm làm việc; biểu phí tư vấn.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho Trung tâm và đồng thời cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật cho những người đủ tiêu chuẩn. Trung tâm chính thức hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép.
- Thay đổi nội dung: Khi thay đổi địa điểm, Giám đốc, danh sách tư vấn viên hoặc thành lập chi nhánh, Trung tâm phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp. Trường hợp bổ sung tư vấn viên phải làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên mới.
Phạm vi hoạt động, quyền và nghĩa vụ của Trung tâm
- Phạm vi hoạt động: Thực hiện hướng dẫn, giải đáp pháp luật; tư vấn soạn thảo đơn thư, di chúc và các giấy tờ khác; tư vấn soạn thảo các hợp đồng có giá trị từ 100.000.000 đồng trở xuống; cung cấp văn bản và thông tin pháp luật. Các hoạt động này phải do tư vấn viên hoặc cộng tác viên của Trung tâm thực hiện.
- Hạn chế hoạt động: Trung tâm tuyệt đối không được nhận thực hiện việc bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo hoặc các đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng.
- Quyền hạn: Được thực hiện tư vấn trong phạm vi cho phép; đề nghị cơ quan, tổ chức liên quan cung cấp thông tin phục vụ vụ việc tư vấn; kiến nghị cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi cho thành viên; nhận tài trợ hợp pháp từ cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để hỗ trợ tư vấn miễn phí.
- Nghĩa vụ: Tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định pháp luật; chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn của nhân sự thuộc Trung tâm; thực hiện báo cáo định kỳ 6 tháng và hàng năm gửi Sở Tư pháp và tổ chức chủ quản.
Chế độ tài chính: Tư vấn miễn phí và thu phí
- Tư vấn pháp luật miễn phí: Áp dụng bắt buộc đối với thành viên của tổ chức chủ quản, người nghèo và các đối tượng chính sách được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định.
- Tư vấn pháp luật thu phí: Được phép thu phí đối với các đối tượng khác ngoài diện miễn phí nhằm bù đắp chi phí hoạt động (mua sắm thiết bị, văn phòng phẩm, trả thù lao, phụ cấp cho nhân sự).
- Mức trần thu phí quy định:
- Hướng dẫn, giải đáp pháp luật bằng miệng, cung cấp thông tin: Tối đa 50.000 đồng/vụ việc.
- Hướng dẫn, giải đáp pháp luật bằng văn bản: Tối đa 100.000 đồng/vụ việc.
- Tư vấn soạn thảo đơn, di chúc và giấy tờ khác: Tối đa 100.000 đồng/vụ việc.
- Tư vấn soạn thảo hợp đồng: Tối đa 200.000 đồng/vụ việc.
- Quản lý thu chi: Tổ chức chủ quản căn cứ mức trần để lập biểu phí cụ thể và niêm yết công khai tại trụ sở Trung tâm. Trung tâm phải lập sổ sách kế toán theo dõi thu chi và chịu sự kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tiêu chuẩn và quy chế hoạt động của Tư vấn viên và Cộng tác viên
- Tiêu chuẩn tư vấn viên pháp luật: Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có bằng cử nhân luật, có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên, đã qua bồi dưỡng kỹ năng tư vấn pháp luật, có đạo đức tốt, không có án tích chưa được xóa và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Cán bộ, công chức đang làm việc tại cơ quan nhà nước không được cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật. Mỗi tư vấn viên chỉ được làm việc cho một Trung tâm.
- Tiêu chuẩn cộng tác viên tư vấn pháp luật: Phải đáp ứng các tiêu chuẩn về bằng cấp, đạo đức và năng lực như tư vấn viên. Người không có bằng cử nhân luật nhưng có từ 10 năm trực tiếp làm công tác pháp luật vẫn có thể làm cộng tác viên. Cán bộ, công chức được làm cộng tác viên nếu không trái với quy định pháp luật về cán bộ, công chức.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Xúi giục đương sự khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện không có căn cứ; lợi dụng danh nghĩa Trung tâm hoặc tư vấn viên để trục lợi cá nhân hoặc hoạt động trái pháp luật; trực tiếp nhận phí từ khách hàng; tiết lộ thông tin vụ việc của khách hàng khi chưa được sự đồng ý (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
Quản lý nhà nước và trách nhiệm của tổ chức chủ quản
- Bộ Tư pháp: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước; soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng chương trình bồi dưỡng kỹ năng; thanh tra, kiểm tra và hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Quản lý hoạt động tư vấn pháp luật tại địa phương; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.
- Sở Tư pháp: Giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý; tổ chức bồi dưỡng kỹ năng; cấp và thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm và Giấy chứng nhận tư vấn viên; báo cáo định kỳ cho UBND cấp tỉnh và Bộ Tư pháp.
- Tổ chức chủ quản: Chịu trách nhiệm toàn diện về tổ chức và hoạt động của Trung tâm do mình thành lập; quyết định thành lập, giải thể; ban hành điều lệ; bồi dưỡng nghiệp vụ và báo cáo định kỳ cho cơ quan tư pháp cùng cấp.
Chế tài xử lý vi phạm và thẩm quyền xử phạt
- Xử lý vi phạm đối với Trung tâm: Tùy mức độ có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi hoạt động không phép, vượt quá phạm vi, không niêm yết danh sách/biểu phí, sử dụng nhân sự không đúng chuẩn, thu phí sai quy định. Trường hợp tái phạm hoặc có tình tiết tăng nặng sẽ bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động có thời hạn hoặc không thời hạn; nếu gây thiệt hại phải bồi thường.
- Xử lý vi phạm đối với cá nhân (tư vấn viên, cộng tác viên): Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi cố ý tư vấn trái luật, đòi thêm tiền/lợi ích từ khách hàng, lợi dụng danh nghĩa để trục lợi. Người vi phạm còn có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận tư vấn viên hoặc xóa tên khỏi danh sách cộng tác viên, đồng thời phải bồi thường nếu gây thiệt hại.
- Thẩm quyền xử phạt: Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo và phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định. Chánh thanh tra chuyên ngành Sở Tư pháp có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 2.000.000 đồng, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm, Giấy chứng nhận tư vấn viên và xóa tên cộng tác viên.
Quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành
Các tổ chức tư vấn pháp luật đã thành lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực phải tiến hành đăng ký lại trong thời hạn 06 tháng, quá thời hạn này nếu không đăng ký phải chấm dứt hoạt động. Người đã được công nhận là chuyên viên tư vấn pháp luật từ 05 năm trở lên tại các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp hợp pháp trước đó được công nhận là tư vấn viên pháp luật theo quy định mới.
Nghị định số 65/2003/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Nghị định này thay thế hoàn toàn Chỉ thị số 620/CT-TTg ngày 29 tháng 9 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 1119/TTQLTPK ngày 24 tháng 12 năm 1987 của Bộ Tư pháp.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 65/2003/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 11 tháng 6 năm 2003 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 65/2003/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng về tư vấn pháp luật của cá nhân, tổ chức, nâng cao ý thức pháp luật và giúp công dân ứng xử theo pháp luật trong quan hệ đời sống hàng ngày; tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tư vấn pháp luật;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư theo quy định của Pháp lệnh luật sư, của Trung tâm trợ giúp pháp lý của nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Điều 2. Hình thức tổ chức và phạm vi hoạt động tư vấn pháp luật
Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có đủ điều kiện quy định tại Nghị định này thì được thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật theo quy định của Nghị định này để thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho thành viên của tổ chức mình.
Nhà nước khuyến khích Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo và các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.
Ngoài hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí cho các đối tượng quy định tại Nghị định này, Trung tâm tư vấn pháp luật được thu phí từ các đối tượng khác để tự trang trải cho hoạt động của mình theo quy định của Nghị định này.
Điều 3. Quản lý hoạt động tư vấn pháp luật
Quản lý hoạt động tư vấn pháp luật theo quy định tại Nghị định này được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm bảo đảm hoạt động tư vấn pháp luật theo quy định của Nghị định này.
Điều 4. Điều kiện thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp muốn thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có ít nhất 3 tư vấn viên pháp luật có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định này;
b) Có địa điểm riêng của Trung tâm tư vấn pháp luật để giao dịch và làm việc.
2. Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi tắt là tổ chức chủ quản) cấp tỉnh, cấp Trung ương ra quyết định thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật. Quyết định thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật do người đứng đầu tổ chức chủ quản ký và có nội dung chính sau đây:
a) Tên gọi của Trung tâm tư vấn pháp luật;
b) Mục đích, nhiệm vụ của Trung tâm tư vấn pháp luật;
c) Lĩnh vực tư vấn pháp luật;
d) Chế độ tài chính của Trung tâm tư vấn pháp luật.
3. Tên gọi của Trung tâm tư vấn pháp luật phải thể hiện rõ tên gọi của tổ chức chủ quản. Trong trường hợp một tổ chức chủ quản thành lập từ 2 Trung tâm tư vấn pháp luật trở lên, thì tên gọi của các Trung tâm này phải có sự phân biệt với nhau.
Điều 5. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Trung tâm tư vấn pháp luật có Giám đốc Trung tâm, tư vấn viên pháp luật và nhân viên khác. Bộ máy tổ chức của Trung tâm tư vấn pháp luật do tổ chức chủ quản quyết định.
Trung tâm tư vấn pháp luật được sử dụng cộng tác viên tư vấn pháp luật.
2. Trung tâm tư vấn pháp luật có con dấu để giao dịch.
Việc khắc và sử dụng con dấu của các Trung tâm tư vấn pháp luật theo quy định của pháp luật hiện hành về quản lý và sử dụng con dấu.
Điều 6. Đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật
Hồ sơ đăng ký hoạt động gồm có:
a) Đơn đăng ký hoạt động;
b) Quyết định của tổ chức chủ quản về việc thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật;
c) Điều lệ Trung tâm tư vấn pháp luật do tổ chức chủ quản ban hành;
d) Quyết định của tổ chức chủ quản về việc cử Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật;
đ) Danh sách dự kiến tư vấn viên pháp luật, kèm theo bản sao bằng cử nhân luật, giấy chứng nhận đã được bồi dưỡng kỹ năng tư vấn pháp luật, giấy tờ xác nhận thời gian công tác pháp luật của người được dự kiến;
e) Giấy tờ xác nhận về địa điểm làm việc của Trung tâm tư vấn pháp luật;
g) Biểu phí do tổ chức chủ quản quy định căn cứ vào
2. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm cấp Giấy đăng ký hoạt động cho Trung tâm tư vấn pháp luật; trong trường hợp từ chối, phải thông báo lý do bằng văn bản cho người làm đơn.
3. Khi cấp Giấy đăng ký hoạt động cho Trung tâm tư vấn pháp luật, Sở Tư pháp đồng thời cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật cho người có đủ tiêu chuẩn quy định tại
Danh sách tư vấn viên pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật phải được niêm yết tại trụ sở của Trung tâm.
Bộ Tư pháp quy định mẫu Giấy đăng ký hoạt động, Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật.
4. Trung tâm tư vấn pháp luật được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động.
Điều 7. Phạm vi hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Phạm vi tư vấn pháp luật bao gồm các việc sau đây:
a) Hướng dẫn, giải đáp pháp luật;
b) Tư vấn soạn thảo đơn, di chúc và các giấy tờ khác;
c) Tư vấn soạn thảo hợp đồng có giá trị từ 100.000.000 đồng trở xuống;
d) Cung cấp các văn bản pháp luật, thông tin pháp luật.
Các việc quy định tại khoản này phải do tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện.
2. Trung tâm tư vấn pháp luật không được nhận thực hiện việc bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, các đương sự khác trước các cơ quan tiến hành tố tụng.
Điều 8. Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm tư vấn pháp luật
1. Trung tâm tư vấn pháp luật có các quyền sau đây:
a) Được thực hiện tư vấn pháp luật trong phạm vi quy định tại
b) Được đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin về những vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nhờ Trung tâm thực hiện tư vấn;
c) Được kiến nghị với các cơ quan nhà nước hữu quan về những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên tổ chức mình;
d) Được nhận các khoản tài trợ của cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài hỗ trợ cho hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí theo quy định của pháp luật.
2. Trung tâm tư vấn pháp luật có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân theo các quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan;
b) Chịu trách nhiệm về việc thực hiện tư vấn pháp luật của tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm;
Điều 9. Tư vấn pháp luật miễn phí
Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho các đối tượng sau đây:
1. Thành viên của tổ chức chủ quản;
2. Người nghèo, đối tượng chính sách được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Điều 10. Tư vấn pháp luật được thu phí
1. Trung tâm tư vấn pháp luật có thể thực hiện tư vấn pháp luật thu phí đối với cá nhân, tổ chức khác ngoài các đối tượng quy định tại
2. Chi phí cần thiết cho hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật bao gồm:
a) Mua sắm trang thiết bị, văn phòng phẩm và tài liệu cần thiết cho hoạt động tư vấn pháp luật;
b) Trả thù lao hoặc phụ cấp cho Giám đốc, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật và các nhân viên khác;
c) Các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện tư vấn pháp luật.
3. Mức phí được thu tối đa như sau:
a) Hướng dẫn, giải đáp pháp luật bằng miệng, cung cấp các thông tin pháp luật, văn bản pháp luật: 50.000 đồng/1vụ việc;
b) Hướng dẫn, giải đáp pháp luật bằng văn bản: 100.000 đồng/1vụ việc;
c) Tư vấn soạn thảo đơn, di chúc và các giấy tờ khác: 100.000 đồng/1 vụ việc;
d) Tư vấn soạn thảo hợp đồng: 200.000 đồng/1vụ việc.
Khi giá cả trên thị trường biến động từ 10% trở lên, Bộ Tư pháp cùng Bộ Tài chính hướng dẫn việc điều chỉnh mức trần quy định tại khoản này.
4. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều này, tổ chức chủ quản lập biểu phí áp dụng cho Trung tâm tư vấn pháp luật do mình thành lập. Biểu phí phải được niêm yết tại trụ sở của Trung tâm tư vấn pháp luật.
5. Trung tâm tư vấn pháp luật phải lập sổ sách theo dõi việc thu, chi theo quy định của pháp luật; chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức chủ quản, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước.
Điều 11. Thay đổi nội dung đăng ký hoạt động
1. Việc thay đổi địa điểm làm việc, Giám đốc Trung tâm, danh sách tư vấn viên pháp luật, đặt chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật phải được thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp, nơi Trung tâm đăng ký hoạt động.
1. Trung tâm tư vấn pháp luật chấm dứt hoạt động trong những trường hợp sau đây:
a) Theo quyết định của tổ chức chủ quản;
b) Bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động.
2. Trong trường hợp chấm dứt hoạt động theo quyết định của tổ chức chủ quản, thì trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có quyết định chấm dứt hoạt động. Trung tâm tư vấn pháp luật phải thông báo bằng văn bản kèm theo Quyết định về việc chấm dứt hoạt động cho Sở Tư pháp, nơi Trung tâm đăng ký hoạt động.
Điều 13. Điều kiện cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật
1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật:
a) Có bằng cử nhân luật, có thời gian công tác pháp luật từ 3 năm trở lên;
c) Có tư cách, đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án tích;
d) Có đủ năng lực hành vi dân sự.
2. Cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan nhà nước không được cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật.
3. Tư vấn viên pháp luật chỉ được làm việc cho một Trung tâm tư vấn pháp luật.
Điều 14. Quyền và nghĩa vụ của tư vấn viên pháp luật
1. Khi thực hiện tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật có các quyền sau đây:
a) Được thực hiện tư vấn pháp luật trong phạm vi hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật;
b) Được bồi dưỡng kỹ năng tư vấn pháp luật;
c) Được hưởng phụ cấp hoặc thù lao theo quy định của tổ chức chủ quản;
2. Tư vấn viên pháp luật có nghĩa vụ thực hiện tư vấn pháp luật trung thực, khách quan; tuân thủ các quy định của tổ chức chủ quản và của pháp luật; chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn do mình thực hiện.
Điều 15. Những điều cấm đối với tư vấn viên pháp luật
ưKhi thực hiện tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật không được làm các việc sau đây:
1. Xúi giục đương sự khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo không có căn cứ;
2. Lợi dụng danh nghĩa Trung tâm tư vấn pháp luật, lạm dụng danh nghĩa là tư vấn viên pháp luật vì mục đích tư lợi hoặc để tiến hành các hoạt động trái pháp luật, trái đạo đức xã hội;
3. Trực tiếp nhận phí tư vấn pháp luật từ tổ chức, cá nhân nhờ Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn;
4. Tiết lộ thông tin về vụ việc, về cá nhân, tổ chức nhờ tư vấn mà tư vấn viên pháp luật biết được trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, trừ trường hợp được cá nhân, tổ chức đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 16. Cộng tác viên tư vấn pháp luật
1. Cộng tác viên tư vấn pháp luật phải có đủ điều kiện quy định tại
Cán bộ, công chức có thể làm cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật trong trường hợp việc làm cộng tác viên đó không trái với pháp luật về cán bộ, công chức.
Danh sách cộng tác viên của Trung tâm tư vấn pháp luật phải được niêm yết tại trụ sở của Trung tâm.
2. Cộng tác viên tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật theo hợp đồng cộng tác viên được ký kết giữa Trung tâm tư vấn pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật.
Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cộng tác viên tư vấn pháp luật được quy định trong hợp đồng cộng tác viên.
Những điều cấm đối với tư vấn viên pháp luật quy định tại
3. Trung tâm tư vấn pháp luật phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng cộng tác viên tư vấn pháp luật.
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Điều 17. Quản lý Nhà nước về hoạt động tư vấn pháp luật
1. Bộ Tư pháp thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động tư vấn pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động tư vấn pháp luật và hướng dẫn thi hành các văn bản đó;
b) Xây dựng chương trình bồi dưỡng kỹ năng tư vấn pháp luật được quy định tại
c) Kiểm tra, thanh tra về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật trong các trường hợp để giải quyết khiếu nại, để xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc các trường hợp cần thiết khác theo đề nghị của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
d) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ việc bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật theo đề nghị của các tổ chức chủ quản.
2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động tư vấn pháp luật trong phạm vi địa phương mình, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về tổ chức, hoạt động của các Trung tâm tư vấn pháp luật theo thẩm quyền;
b) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của các Trung tâm tư vấn pháp luật;
c) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
a) Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn pháp luật được quy định tại
b) Cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật;
c) Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật;
d) Hỗ trợ tổ chức chủ quản cùng cấp trong việc bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các tư vấn viên pháp luật;
Điều 18. Trách nhiệm của tổ chức chủ quản trong việc quản lý hoạt động tư vấn pháp luật
1. Tổ chức chủ quản chịu trách nhiệm về tổ chức, hoạt động của các Trung tâm tư vấn pháp luật do mình thành lập, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quyết định thành lập, giải thể Trung tâm tư vấn pháp luật;
b) Ban hành và kiểm tra việc thực hiện Điều lệ của Trung tâm tư vấn pháp luật; xử lý vi phạm theo Điều lệ của tổ chức mình;
c) Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật;
d) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo Điều lệ của tổ chức mình.
2. Tổ chức chủ quản báo cáo cơ quan tư pháp cùng cấp bằng văn bản định kỳ 6 tháng và hàng năm về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm tư vấn pháp luật do mình thành lập.
Trung tâm tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật có thành tích trong hoạt động tư vấn pháp luật được khen thưởng theo quy định của nhà nước và của tổ chức chủ quản.
Điều 20. Xử lý vi phạm đối với Trung tâm tư vấn pháp luật
Trung tâm tư vấn pháp luật vi phạm các quy định của Nghị định này, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính theo các hình thức sau đây:
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Thực hiện tư vấn pháp luật khi chưa được cấp Giấy đăng ký hoạt động;
b) Thực hiện tư vấn pháp luật ngoài phạm vi hoạt động quy định tại Nghị định này;
c) Không niêm yết danh sách tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật tại trụ sở của Trung tâm;
d) Sử dụng những người không phải là tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật để thực hiện tư vấn pháp luật;
đ) Không niêm yết biểu phí tư vấn pháp luật tại trụ sở của Trung tâm;
e) Thu phí tư vấn pháp luật trái với quy định tại
g) Vi phạm các quy định khác của Nghị định này.
2. Thu hồi có thời hạn hoặc không thời hạn Giấy đăng ký hoạt động trong trường hợp tái phạm hoặc hành vi vi phạm có tình tiết tăng nặng.
Trường hợp vi phạm gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 21. Xử lý vi phạm đối với tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật
1. Tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng:
a) Cố ý tư vấn trái pháp luật;
b) Đòi thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản phí mà Trung tâm tư vấn pháp luật đã thu;
c) Lợi dụng danh nghĩa Trung tâm tư vấn pháp luật, lạm dụng danh nghĩa tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật để thực hiện tư vấn pháp luật nhằm thu lợi cho riêng mình hoặc để tiến hành các hoạt động khác trái pháp luật.
2. Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại khoản 1 của Điều này, người vi phạm còn có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật hoặc xoá tên khỏi danh sách cộng tác viên tư vấn pháp luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 22. Thẩm quyền xử lý vi phạm
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này.
2. Chánh thanh tra chuyên ngành của Sở Tư pháp có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 2.000.000 đồng;
c) Thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật; xoá tên khỏi danh sách cộng tác viên tư vấn pháp luật.
Điều 23. Thủ tục xử lý vi phạm
ưThủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với Trung tâm tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
1. Trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, các tổ chức tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đã được thành lập và hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu muốn tiếp tục hoạt động thì phải đăng ký hoạt động theo quy định của Nghị định này; sau thời hạn kể trên mà không đăng ký hoạt động theo quy định của Nghị định này thì phải chấm dứt hoạt động.
2. Người đã được công nhận là chuyên viên tư vấn pháp luật từ 5 năm trở lên và đang là chuyên viên tư vấn pháp luật thuộc các Văn phòng tư vấn pháp luật hoặc Trung tâm tư vấn pháp luật của Hội Luật gia Việt Nam, của Tổng Liên đoàn Lao độngViệt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác vào thời điểm Nghị định này có hiệu lực thì được công nhận là tư vấn viên pháp luật theo quy định của Nghị định này.
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Chỉ thị số 620/CT-TTg ngày 29 tháng 9 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý hoạt động tư vấn pháp luật và Thông tư số 1119/TTQLTPK ngày 24 tháng 12 năm 1987 của Bộ Tư pháp về công tác dịch vụ pháp lý hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 65/2003/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật
- Số hiệu: 65/2003/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 11/06/2003
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 69 đến số 70
- Ngày hiệu lực: 16/07/2003
- Ngày hết hiệu lực: 11/08/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
