Nghị định số 519-TTg được ban hành năm 1957 bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm quy định chi tiết về thể lệ bảo tồn cổ tích, bảo vệ các di sản văn hóa, lịch sử và danh lam thắng cảnh trên lãnh thổ Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với tất cả các bất động sản và động sản có giá trị lịch sử hoặc nghệ thuật (bao gồm cả những vật nằm dưới đất hoặc dưới nước) và các danh lam thắng cảnh trên toàn lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, đơn vị hành chính, cơ quan, đoàn thể hay tư nhân.
Nội dung cốt lõi của Nghị định bao gồm các quy định sau:
1. Quy định về việc phân loại và liệt hạng di tích, danh thắng
- Bất động sản liệt hạng: Gồm các di tích lịch sử, nghệ thuật hoặc danh thắng như chùa, đền, đình, miếu, lâu đài, cung điện, nhà thờ, thành lũy, đồn ải, lăng mộ cổ, nhà cửa, vườn tược, hang động, rừng núi, sông, biển, vịnh và các vật phụ thuộc (bia, tượng, tháp, cây cổ thụ...). Bất động sản liệt hạng được phân làm 3 loại: Loại A (Bộ Văn hóa phụ trách), Loại B (Ủy ban hành chính khu, tỉnh phụ trách) và Loại C (nhân dân sử dụng và bảo quản dưới sự hướng dẫn của cơ quan văn hóa).
- Động sản liệt hạng: Gồm các di vật lịch sử, nghệ thuật lâu đời, di vật cách mạng và kháng chiến như vết tích sinh vật cổ, dụng cụ sản xuất cổ, sản phẩm nghệ thuật cổ, sách vở, tài liệu cũ, tiền tệ cũ, binh khí cổ, di vật của danh nhân hoặc lãnh tụ cách mạng.
- Thẩm quyền và thủ tục liệt hạng: Do Bộ Văn hóa quyết định sau khi tham khảo ý kiến Hội đồng nghiên cứu di tích lịch sử. Đối với tài sản tư nhân hoặc đoàn thể phải có sự thỏa thuận của chủ sở hữu. Hiệu lực liệt hạng bắt đầu từ ngày Ủy ban hành chính cấp cơ sở nhận được thông báo và tồn tại vĩnh viễn kể cả khi thay đổi chủ sở hữu.
- Quy định về chuyển nhượng tài sản liệt hạng: Đối với tài sản tư nhân, chủ sở hữu được quyền bán, đổi, thừa kế nhưng phải báo trước cho chính quyền địa phương để Nhà nước thực hiện quyền ưu tiên mua. Người chủ mới phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo tồn. Mọi giao dịch trái phép đều vô hiệu và có thể bị truy tố. Đối với tài sản Nhà nước, tuyệt đối không được nhượng bán, đổi chác; khi không sử dụng phải bàn giao cho cơ quan Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa.
2. Quy định về sưu tầm và khai quật di tích, di vật
- Chỉ có cơ quan Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa mới được tổ chức sưu tầm, khai quật. Các tổ chức, cá nhân khác muốn thực hiện phải được Bộ Văn hóa cấp phép và thông qua kế hoạch trước khi thực hiện.
- Trước khi xây dựng các công trình lớn (đào giếng, lò vôi, mở đường, khai mỏ...) trong hoặc giáp ranh khu vực liệt hạng, phải có sự thỏa thuận của Bộ Văn hóa.
- Trường hợp phát hiện di tích, di vật trong quá trình sản xuất, xây dựng ngoài khu vực liệt hạng, phải tạm ngừng thi công, giữ nguyên hiện trạng và báo ngay cho chính quyền địa phương để phối hợp xử lý. Người phát hiện sẽ được Chính phủ khen thưởng nếu di vật có giá trị.
3. Chế độ bảo quản di tích và danh lam thắng cảnh
- Chủ sở hữu hoặc người quản lý có trách nhiệm bảo quản nguyên vẹn di tích, di vật; có phương án phòng chống thiên tai, hỏa hoạn, trộm cắp và báo cáo ngay khi có sự cố hư hại xảy ra.
- Nghiêm cấm tự ý trùng tu, sửa chữa, di chuyển hoặc thay đổi hiện trạng khi chưa được phép của Bộ Văn hóa hoặc cơ quan được ủy quyền.
- Nghiêm cấm sử dụng di tích vào các mục đích gây hư hại như làm chuồng trại, chứa chất nổ, dán quảng cáo, viết khẩu hiệu. Không được tự ý cho thuê, cho mượn di tích, di vật khi chưa được sự đồng ý của cơ quan quản lý.
- Nếu chủ sở hữu không bảo quản chu đáo sau hai lần cảnh cáo, Bộ Văn hóa có quyền can thiệp, trưng mua hoặc tạm thời thu hồi để bảo quản tại bảo tàng.
- Bảo vệ các khu núi đá danh thắng ở đồng bằng và dải Trường Sơn; nghiêm cấm khai thác đá hoặc xây dựng công trình tại đây khi chưa được Bộ Văn hóa đồng ý.
- Thành lập các Ban bảo vệ di tích lịch sử tại địa phương với sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tôn giáo.
4. Công tác trùng tu, sửa chữa và nguồn tài chính
- Việc trùng tu, sửa chữa phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép và thực hiện dưới sự hướng dẫn của chuyên gia do Bộ Văn hóa chỉ định.
- Kinh phí trùng tu, sửa chữa chủ yếu do người chủ hoặc nhân dân địa phương tự đài thọ. Ngân sách quốc gia chỉ hỗ trợ một phần đối với các di tích có giá trị đặc biệt về lịch sử hoặc nghệ thuật.
- Bộ Văn hóa quản lý và quy định việc sử dụng nguồn thu từ lợi tức di tích hoặc tiền công đức, đóng góp của nhân dân cho mục đích bảo tồn, trùng tu.
5. Quy định về xuất khẩu di vật lịch sử
- Nghiêm cấm xuất khẩu hoặc đưa ra ngoài lãnh thổ Việt Nam các động sản có giá trị lịch sử (dù đã liệt hạng hay chưa) nếu không được Bộ Văn hóa cho phép.
- Việc đưa di vật ra nước ngoài để triển lãm hoặc làm quà tặng ngoại giao phải có sự đồng ý của Bộ Văn hóa.
6. Khen thưởng và xử lý vi phạm
- Khen thưởng: Áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có công bảo quản tốt di tích, hiến tặng di vật quý giá cho Nhà nước hoặc phát hiện, tố giác hành vi vi phạm pháp luật về bảo tồn.
- Xử lý kỷ luật: Cá nhân, tổ chức vi phạm tùy theo mức độ sẽ bị phê bình, cảnh cáo, bồi thường thiệt hại hoặc truy tố trước tòa án và xử phạt theo luật lệ hiện hành.
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Ủy ban hành chính các khu, thành phố, tỉnh chịu trách nhiệm thi hành và hướng dẫn chi tiết văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 519-TTg | Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 1957 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Theo đề nghị của Bộ Văn hoá
NGHỊ ĐỊNH
Điều 4: Tuỳ theo giá trị của di tích và danh thắng, những bất động sản liệt hạng phân làm ba loại:
Loại A: Do Bộ Văn hoá phụ trách các việc đăng ký, xử lý (quy định thể lệ sử dụng, cho phép sử dụng, v.v...) và bảo quản.
Loại B: Do Uỷ ban hành chính , khu, tỉnh phụ trách các việc đăng ký, xử lý và bảo quản.
Loại C: Do nhân dân (đoàn thể hay tư nhân) sử dụng và bảo quản, dưới sự hướng dẫn của cơ quan phụ trách đăng ký, theo dõi, và hướng dẫn bảo quản. Tuỳ từng bất động sản, việc đăng ký, theo dõi và hướng dẫn bảo quản giao cho Sở, Phòng, Ty Văn hoá địa phương hoặc cơ quan Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hoá phụ trách.
a) Những vết tích còn nguyên hay đã biến ra đá của sinh vật, thực vật cổ, những đồ dùng của loài người trước khi có sử.
b) Dụng cụ sản xuất bằng đá, đồng, sắt, gỗ, tre, nứa, các phương tiện vận tải, các đồ nấu bếp bằng gốm, sành, sứ, đồng thau... và các đồ dùng khác trong nhà đã lâu đời hoặc có nghệ thuật khéo.
c) Sản phẩm nghệ thuật lâu đời như tranh vẽ, hình khắc, tượng, vật liệu kiến trúc cổ, đồ mỹ nghệ cũ.
d) Các loại sách vở in hoặc viết bằng bất cứ thứ chữ nào, có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học, y thuật, nghề nghiệp; các tài liệu, các văn tự cũ; các đồ văn phòng, ấn loát, lễ giáo, trang phục, ca nhạc, du hý đã lâu đời.
đ) Cân, đấu, thước đo và các thứ tiền tệ cũ như bạc nén, vàng thỏi hoặc những vật khác gì trước kia dùng làm tiền.
e) Binh khí, đồ dùng để thi hành các hình phạt thời trước.
g) Những tài liệu, văn tự, những vật liệu cách mạng và kháng chiến.
h) Những di vật của các danh nhân, các lãnh tụ cách mạng.
Điều 6: Việc liệt hạng những bất động sản, động sản và những danh lam thắng cảnh, do Bộ Văn hoá quyết định sau khi đã nghiên cứu và hỏi ý kiến của Hội đồng nghiên cứu di tích lịch sử. Nếu là động sản thuộc quyền sở hữu của một tư nhân hay một đoàn thể thì phải được sự thoả thuận của người chủ (cá nhân hoặc tập thể) rồi mới liệt hạng.
Các nghị định liệt hạng đều được đăng trên Công báo.
Trên những bất động sản liệt hạng có viết bảng chỉ rõ vị trí và ranh giới để nhân dân và chính quyền địa phương biết mà trông nom giữ gìn, nhất thiết không để một tư nhân, một đoàn thể hay một cơ quan nào chiếm cứ, xâm lấn, phá phách.
Phải báo trước cho Uỷ ban hành chính xã hoặc khu phố biết ý định muốn nhượng bán, đổi chác hoặc chia gia tài. Chính quyền xã hoặc khu phố báo ngay cho Sở hoặc Ty Văn hoá biết để nếu cần thì đề nghị Bộ Văn hoá sử dụng kịp thời quyền mua ưu tiên.
Phải dành quyền ưu tiên cho Chính phủ, kể cả trường hợp bán đấu giá trong việc chia gia tài.
Phải nói cho người chủ mới biết rõ là bất động sản hay động sản của mình đã được liệt hạng để người chủ mới tiếp tục chấp hành các thể lệ về liệt hạng.
Sau khi nhượng bán, đổi chác hoặc phân chia xong, chậm nhất trong hạn mười lăm ngày, phải báo cáo cho Uỷ ban hành chính xã hoặc khu phố biết để trình cơ quan phụ trách đăng ký liệt hạng sang tên cho chủ mới.
Điều 10: Hiệu lực liệt hạng tồn tại mãi dù bất động sản hay động sản liệt hạng có thay đổi chủ.
Đối với người chủ mới, cơ quan nói trên có thể vẫn để nguyên cho họ được giữ những bất động sản hoặc động sản nhượng bán, đổi chác hoặc phân chia trái phép với điều kiện là họ phải tuân theo thể lệ liệt hạng. Trường hợp cần thiết cơ quan phụ trách việc đăng ký, liệt hạng có thể đòi người chủ mới phải nhượng cho Chính phủ những bất động sản hoặc động sản đã mua bán, đổi chác hay phân chia trái phép.
Nghị định này cũng thông báo và công bố theo cách thức nói ở Điều 7.
Điều 13: Chỉ cơ quan Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hoá mới được tổ chức việc sưu tầm và khai quật những di tích và di vật lịch sử. Các cơ quan đoàn thể hoặc tư nhân muốn làm những việc ấy phải được Bộ Văn hoá cho phép.Chương trình và kế hoạch sưu tầm hay khai quật phải được Bộ Văn hoá thông qua trước khi thực hiện.
Trường hợp xét thấy di tích, di vật đã phát hiện có giá trí lịch sử hay nghệ thuật, thì Bộ Văn hoá sẽ quyết định liệt hạng di tích, di vật ấy và cho đưa vào Viện bảo tàng quốc gia để bảo quản chu đáo. Những cơ quan, đoàn thể hoặc tư nhân đã phát hiện di tích, di vật ấy sẽ được Chính phủ khen thưởng.
Không được phá huỷ hay làm những việc gì có phương hại đến di tích, di vật liệt hạng, và phải có kế hoạch ngăn ngừa những sự phá hoại bất ngờ do bão lụt, mưa nắng, hoả tai, trộm cắp, v.v... có thể gây nên. Nếu có xảy ra việc gì bất thường làm tổn hại đến di tích, di vật liệt hạng, thì người chủ hoặc người có trách nhiệm bảo quản phải báo ngay cho Uỷ ban hành chính xã hay khu phố biết để trình cấp trên kịp thời giải quyết.
Không được tự ý trùng tu, sửa chữa, di chuyển hoặc thay đổi gì về di tích, di vật liệt hạng, nếu không được Bộ Văn hoá hoặc cơ quan được Bộ Văn hoá hoá uỷ quyền cấp giấy phép.
Không được sử dụng những di tích liệt hạng vào những việc có thể làm hư hỏng hoặc làm mất giá trị của di tích ấy như: làm chỗ nuôi súc vật, cất rơm rạ, chứa chất nổ, dán quảng cáo, kẻ khẩu hiệu, v.v...
Không được cho thuê, cho mượn những di tích di vật liệt hạng nếu không được sự đồng ý của cơ quan phụ trách hướng dẫn bảo quản các di tích và di vật ấy.
Đối với những di tích di vật liệt hạng cần được bảo quản theo một kế hoạch và kỹ thuật riêng, thì người chủ hoặc người quản lý phải làm theo sự hướng dẫn của cơ quan hay của người chuyên môn được uỷ quyền của Bộ Văn hoá.
Điều 30: Những điều khoản quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 31: Những chi tiết thi hành Nghị định này do Bộ Văn hoá quy định.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1Chỉ thị 59-TTg/VG năm 1969 về bảo tồn di tích chống Mỹ, cứu nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Quyết định 29-VH-QĐ năm 1964 về việc liệt hạng 31 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh thuộc thành phố Hà Nội và các tỉnh Hà Đông, Hà Bắc, Sơn Tây, Hưng Yên, Nam Định và Vĩnh Phú (đợt II)do Bộ trưởng Bộ Văn hóa ban hành
- 3Quyết định 207-HĐBT năm 1991 huỷ bỏ các văn bản pháp luật do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 1Chỉ thị 59-TTg/VG năm 1969 về bảo tồn di tích chống Mỹ, cứu nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Quyết định 29-VH-QĐ năm 1964 về việc liệt hạng 31 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh thuộc thành phố Hà Nội và các tỉnh Hà Đông, Hà Bắc, Sơn Tây, Hưng Yên, Nam Định và Vĩnh Phú (đợt II)do Bộ trưởng Bộ Văn hóa ban hành
Nghị định 519-TTg năm 1957 về qui định thể lệ bảo tồn cổ tích do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 519-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 29/10/1957
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 46
- Ngày hiệu lực: 13/11/1957
- Ngày hết hiệu lực: 04/07/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
