Nghị định 416-TTg được ban hành năm 1959 bởi Thủ tướng Chính phủ, quyết định về việc thành lập Ban Việt kiều trung ương nhằm thực hiện công tác đón tiếp và giải quyết đời sống cho kiều bào hồi hương.
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan Chính phủ, các bộ, ngành, Ủy ban Hành chính các khu, thành phố, tỉnh, các cá nhân được phân công nhiệm vụ trong Ban Việt kiều trung ương, cùng toàn thể lực lượng kiều bào trở về nước.
Thành lập và chức năng, nhiệm vụ của Ban Việt kiều trung ương- Chính thức thành lập Ban Việt kiều trung ương để chuyên trách các công tác liên quan đến kiều bào.
- Nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất: Ban có trách nhiệm nghiên cứu và trình Chính phủ các chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể trong việc tổ chức đón tiếp và sắp xếp, giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho Việt kiều hồi hương.
- Nhiệm vụ chỉ đạo và phối hợp: Giúp Chính phủ trực tiếp chỉ đạo toàn diện công tác hồi hương; đồng thời làm đầu mối tổ chức, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành trung ương và các địa phương liên quan để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ nêu trên.
Ban Việt kiều trung ương được cơ cấu với các thành viên chủ chốt từ nhiều cơ quan, bộ ngành quan trọng, bao gồm:
- Trưởng ban: Ông Nguyễn Khang, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.
- Ủy viên thường trực: Ông Tô Quang Đẩu (Thứ trưởng Bộ Nội vụ) và Ông Hồ Văn Ninh (Giám đốc Vụ thuộc Bộ Nội vụ).
- Các Ủy viên khác bao gồm: Ông Dương Bạch Mai (Ủy viên thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), Bác sĩ Vũ Đình Tụng (Hội trưởng Hội Hồng thập tự Việt Nam), Ông Nguyễn Văn Tạo (Bộ trưởng Bộ Lao động), Ông Hoàng Quốc Thịnh (Thứ trưởng Bộ Nội thương), Ông Nguyễn Tạo (Thứ trưởng Bộ Nông lâm), và Ông Nguyễn Văn Chi (Phó chủ nhiệm Văn phòng Nội chính Phủ Thủ tướng).
- Cấp trung ương: Ban Việt kiều trung ương được thành lập một văn phòng giúp việc riêng. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của văn phòng này do chính Ban Việt kiều trung ương tự quy định.
- Cấp địa phương: Ủy ban Hành chính các khu, thành phố và tỉnh chịu trách nhiệm quy định tổ chức bộ máy đón tiếp Việt kiều tại địa phương mình, sau khi đã thống nhất và được sự đồng ý của Ban Việt kiều trung ương.
- Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, các Bộ trưởng các Bộ ngành liên quan và Chủ tịch Ủy ban Hành chính các địa phương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định này.
Nghị định 416-TTg có hiệu lực kể từ ngày ban hành năm 1959 và được ký thực hiện bởi Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 416-TTg | Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 1959 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, phiên họp ngày 23 tháng 10 năm 1959 về việc đón tiếp Việt kiều ở Thái-lan, Tân-đảo, Tân thế giới v.v… về nước;
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 2: - Ban Việt kiều trung ương có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu và đề nghị với Chính phủ những chính sách và biện pháp trong việc đón tiếp Việt kiều và giải quyết công việc làm ăn cho Việt kiều.
- Giúp Chính phủ chỉ đạo công tác hồi hương Việt kiều, tổ chức việc phối hợp giữa các ngành, các địa phương có liên quan để thực hiện công tác trên.
Điều 3: - Thành phần Ban Việt kiều trung ương gồm có các vị sau đây:
- Ông Nguyễn Khang, Bộ trưởng Thủ tướng phủ: Trưởng ban
- Ông Dương Bạch Mai, Ủy viên thường trực Ủy ban Trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam: Ủy viên
- Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Hội trưởng Hội Hồng thập tự Việt Nam: Ủy viên
- Ông Nguyễn Văn Tạo, Bộ trưởng Bộ lao động: Ủy viên
- Ông Hoàng Quốc Thịnh, thứ trưởng Bộ Nội thương: Ủy viên
- Ông Nguyễn Tạo, thứ trưởng Bộ nông lâm: Ủy viên
- Ông Nguyễn Văn Chi, Phó chủ nhiệm Văn phòng Nội chính Thủ tướng phủ: Ủy viên
- Ông Tô Quang Đẩu, Thứ trưởng Bộ Nội vụ: Ủy viên thường trực
- Ông Hồ Văn Ninh, Giám đốc Vụ tại Bộ Nội vụ: Ủy viên thường trực
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Nghị định 416-TTg năm 1959 về thành lập Ban Việt kiều trung ương do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.
- Số hiệu: 416-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 23/11/1959
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 46
- Ngày hiệu lực: 08/12/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
