Nghị định số 39/1998/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về việc xử lý tài sản chìm đắm ở biển, bao gồm các hoạt động phát hiện, thông báo, trục vớt, bảo quản và xác định quyền sở hữu đối với các tài sản này.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có tài sản bị chìm đắm hoặc có liên quan đến việc phát hiện, trục vớt, bảo quản và giải quyết tài sản chìm đắm tại nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, trôi nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt Nam. Tài sản chìm đắm bao gồm các loại tàu biển, hàng hóa hoặc các vật thể khác, không phân biệt nguồn gốc, giá trị, đặc tính, hình thức sở hữu và thời gian bị chìm đắm.
Nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ sở hữu tài sản chìm đắm
- Chủ sở hữu tài sản chìm đắm có nghĩa vụ trục vớt tài sản và chịu mọi chi phí liên quan. Trường hợp chủ sở hữu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thời hạn yêu cầu, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định việc trục vớt.
- Đối với tàu biển thuộc sở hữu của chủ tàu Việt Nam (theo quy định của Bộ luật Hàng hải), chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm thanh toán chi phí trục vớt trong giới hạn giá trị thực tế của tài sản được trục vớt; phần chi phí còn lại sẽ được thanh toán từ phí bảo đảm hàng hải.
- Người quản lý, khai thác tài sản chìm đắm phải chịu trách nhiệm liên đới trước cơ quan Nhà nước và thanh toán các chi phí liên quan đến việc trục vớt.
- Trường hợp tài sản chìm đắm gây ô nhiễm môi trường, chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Thẩm quyền quản lý và tổ chức xử lý tài sản chìm đắm
- Bộ Giao thông vận tải: Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và các Bộ, ngành liên quan tổ chức xử lý tàu biển và các tài sản chìm đắm khác gây nguy hiểm, cản trở hoạt động hàng hải, khai thác cảng, tài nguyên biển, đe dọa tính mạng, sức khỏe con người hoặc gây ô nhiễm môi trường.
- Cục Hàng hải Việt Nam: Trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định thời hạn kết thúc trục vớt; lập phương án trục vớt và trực tiếp tổ chức thực hiện theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các cơ quan liên quan tổ chức xử lý các loại tài sản chìm đắm khác ngoài phạm vi của Bộ Giao thông vận tải; quyết định thời hạn và tổ chức trục vớt các tài sản này.
- Bộ Quốc phòng: Cấp giấy phép trục vớt tài sản chìm đắm trong khu vực quân sự và trục vớt các trang thiết bị quân sự. Trường hợp trang thiết bị quân sự chìm ngoài khu vực quân sự gây nguy hiểm hàng hải hoặc môi trường, việc cấp phép và trục vớt phải thực hiện trong thời hạn do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định.
- Hợp tác nước ngoài: Trường hợp tổ chức, cá nhân Việt Nam không thể thực hiện trục vớt, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định cho phép hợp tác với nước ngoài theo quy định pháp luật.
Quy trình thông báo và xác định chủ sở hữu
- Thông báo ban đầu: Người phát hiện, chủ sở hữu hoặc người ngẫu nhiên trục vớt được tài sản phải báo ngay cho Cảng vụ hàng hải hoặc UBND cấp xã gần nhất. Nếu tài sản ở khu vực quân sự, phải thông báo thêm cho cơ quan quân sự đóng quân gần nhất.
- Xác minh chủ sở hữu: Trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận báo cáo, Cục Hàng hải Việt Nam hoặc UBND cấp tỉnh phải xác định chủ sở hữu. Nếu có địa chỉ rõ ràng, gửi thông báo trực tiếp. Nếu chưa rõ chủ sở hữu, phải thông báo 3 lần liên tiếp trên báo Trung ương hoặc địa phương.
- Thời hạn nhận lại tài sản: Trong vòng 60 ngày kể từ ngày thông báo lần cuối cùng, chủ sở hữu hoặc người đại diện hợp pháp phải liên hệ làm thủ tục nhận lại tài sản. Quá thời hạn này, tài sản sẽ bị giải quyết theo quy định.
- Nội dung thông báo: Phải mô tả rõ đặc điểm, tính năng tài sản; thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phát hiện/trục vớt; thời hạn, địa chỉ làm thủ tục và thông tin liên hệ của cơ quan thông báo. Chi phí tìm kiếm chủ sở hữu được tính vào chi phí trục vớt.
Quy định về bảo quản và giao nhận tài sản ngẫu nhiên trục vớt được
- Tổ chức, cá nhân ngẫu nhiên trục vớt được tài sản có trách nhiệm bảo quản tài sản cho đến khi bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền.
- Việc giao nhận phải lập thành văn bản gồm 3 bản (bên giao giữ 1 bản, bên nhận giữ 1 bản, gửi Cục Hàng hải Việt Nam hoặc UBND cấp huyện 1 bản) với các nội dung: thông tin bên giao/nhận, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phát hiện và mô tả chi tiết tài sản.
- Nếu tài sản là trang thiết bị quân sự, ngay sau khi tiếp nhận, Cảng vụ hàng hải hoặc UBND cấp xã phải chuyển giao ngay cho cơ quan quân sự địa phương bảo quản, giải quyết.
Phương án xử lý đối với từng loại tài sản cụ thể
- Hàng hóa xuất nhập khẩu: Cảng vụ hàng hải hoặc UBND cấp xã phối hợp với cơ quan Hải quan gần nhất để giải quyết theo quy định pháp luật hải quan.
- Cổ vật, di vật lịch sử - văn hóa: Cục Hàng hải Việt Nam hoặc UBND cấp huyện báo cáo Bộ Giao thông vận tải hoặc UBND cấp tỉnh và Bộ Văn hóa - Thông tin để phối hợp giải quyết.
- Tàu biển hoặc tài sản có giá trị lớn (không phải cổ vật): Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hoặc UBND cấp tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết và báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ.
- Tài sản không có người nhận: Nếu chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại hoặc không xác định được chủ sở hữu sau thời hạn quy định, tài sản sẽ thuộc sở hữu của Nhà nước Việt Nam.
Quy định về bán đấu giá tài sản chìm đắm
- Trường hợp chủ sở hữu không thanh toán chi phí liên quan đúng hạn, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam hoặc UBND cấp tỉnh có quyền quyết định bán đấu giá tài sản.
- Số tiền thu được từ bán đấu giá, sau khi trừ chi phí trục vớt, bảo quản, tổ chức đấu giá và các chi phí hợp lý khác, sẽ được gửi vào tài khoản tạm gửi tại Ngân hàng Việt Nam và thông báo cho chủ sở hữu. Sau 180 ngày kể từ ngày thông báo, nếu chủ sở hữu không nhận, số tiền này và lãi phát sinh sẽ nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Nếu tiền bán đấu giá không đủ bù đắp chi phí, chủ sở hữu có nghĩa vụ thanh toán phần thiếu hụt. Trường hợp không xác định được chủ sở hữu đối với tài sản gây nguy hiểm hàng hải/môi trường, phần chi phí thiếu hụt được bù đắp từ nguồn thu phí bảo đảm hàng hải.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 39/1998/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Cục trưởng Cục Hàng hải chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 39/1998/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 1998 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 39/1998/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 6 NĂM 1998 VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN CHÌM ĐẮM Ở BIỂN
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 28 tháng 10 năm 1995;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Nghị định này quy định cụ thể việc xử lý tài sản chìm đắm ở biển.
2. Việc xử lý tài sản chìm đắm ở biển được thực hiện theo quy định của Nghị định này, các quy định khác của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.
Điều 2. Tài sản chìm đắm ở biển nói tại Nghị định này bao gồm các loại tàu biển, hàng hóa hoặc các vật thể khác, không phân biệt nguồn gốc, giá trị, đặc tính, hình thức sở hữu và thời gian bị chìm đắm ở nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, trôi nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt Nam.
2. Chủ sở hữu tài sản chìm đắm chịu mọi chi phí liên quan đến việc trục vớt tài sản. Trong trường hợp tài sản chìm đắm là tàu biển thuộc sở hữu của chủ tàu Việt Nam nói tại khoản 1, Điều 177 Bộ luật Hàng hải Việt Nam, thì chủ sở hữu tài sản chỉ chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí liên quan đến việc trục vớt tài sản trong giới hạn giá trị thực tế của tài sản đã được trục vớt. Phần còn lại được thanh toán từ phí bảo đảm hàng hải.
3. Người quản lý, khai thác tài sản chìm đắm phải chịu trách nhiệm liên đới trước các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc trục vớt tài sản chìm đắm và phải thanh toán các chi phí có liên quan đến việc trục vớt tài sản.
4. Trường hợp tài sản chìm đắm gây ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra theo quy định của pháp luật.
2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, ngành và địa phương liên quan để tổ chức xử lý các loại tài sản chìm đắm khác, không quy định tại khoản 1 của Điều này.
3. Những tài sản trục vớt được có liên quan đến an ninh quốc gia hoặc có giá trị đối với việc bảo tồn nền văn hóa dân tộc, lịch sử quốc gia phải thông báo các Bộ liên quan biết trước khi xử lý.
Điều 5. Mọi tổ chức, cá nhân có tài sản bị chìm đắm hoặc có liên quan đến việc phát hiện, trục vớt, bảo quản, giải quyết tài sản chìm đắm ở biển phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam. Nếu có thành tích sẽ được khen thưởng, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU TÀI SẢN CHÌM ĐẮM Ở BIỂN
Giám đốc Cảng vụ hàng hải hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã sau khi nhận được thông báo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ, quản lý tài sản chìm đắm đó và báo cáo Cục Hàng hải Việt Nam hoặc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là ủy ban nhân dân cấp huyện) để báo cáo Bộ Giao thông vận tải hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Trong trường hợp tài sản bị chìm đắm ở khu vực quân sự, chủ sở hữu hoặc người quản lý, khai thác tài sản hoặc người phát hiện hoặc người ngẫu nhiên trục vớt được tài sản chìm đắm ở khu vực quân sự cũng thông báo theo quy định tại khoản 1 của Điều này. Cơ quan nhận được thông báo đó ngoài việc thực hiện nhiệm vụ của mình còn phải thông báo cho cơ quan quân sự đóng quân gần nhất.
a) Trường hợp có giấy tờ (tài liệu) ghi tên và địa chỉ của chủ sở hữu tài sản chìm đắm, thì Cục Hàng hải Việt Nam hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải thông báo cho chủ sở hữu tài sản theo địa chỉ đó.
b) Trường hợp tài sản chìm đắm ở biển mà chưa xác định chủ sở hữu tài sản, Cục Hàng hải Việt Nam hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo ba lần liên tiếp trên báo Trung ương hoặc trên báo địa phương.
2. Trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày thông báo lần cuối cùng, chủ sở hữu tài sản chìm đắm hoặc người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Việt Nam phải liên lạc với cơ quan thông báo để làm thủ tục nhận lại tài sản.
Quá thời hạn nêu trên, tài sản sẽ bị giải quyết theo quy định tại
Điều 8. Thông báo tìm chủ sở hữu tài sản chìm đắm phải có các nội dung chủ yếu sau:
1. Mô tả đặc điểm, tính năng của tài sản chìm đắm;
2. Thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phát hiện hoặc trục vớt được tài sản chìm đắm;
3. Thời hạn và địa chỉ mà chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền phải đến làm thủ tục nhận lại tài sản;
4. Địa chỉ của cơ quan thông báo để chủ sở hữu tài sản liên hệ giải quyết kịp thời.
Điều 9. Chi phí cho việc tìm chủ sở hữu tài sản chìm đắm được tính vào chi phí liên quan đến việc trục vớt tài sản chìm đắm.
TRỤC VỚT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM Ở BIỂN
Điều 10. Trách nhiệm của Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam liên quan đến việc trục vớt tài sản chìm đắm ở biển:
1. Trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định chấp nhận thời hạn dự kiến kết thúc hoạt động trục vớt tài sản chìm đắm ở biển quy định tại khoản 2, Điều 175 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam.
2. Lập phương án trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định việc tổ chức trục vớt các tài sản chìm đắm ở biển quy định tại khoản 3, Điều 175 và khoản 1, khoản 2, Điều 177 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam.
3. Tổ chức trục vớt tài sản chìm đắm ở biển quy định tại
Điều 11. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ quyết định thời hạn và tổ chức trục vớt tài sản chìm đắm không thuộc các loại tài sản chìm đắm quy định tại
2. Trong trường hợp trang thiết bị quân sự bị chìm đắm ngoài khu vực quân sự nhưng gây nguy hiểm hoặc cản trở hoạt động hàng hải, khai thác cảng và tài nguyên biển, đe dọa tính mạng và sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường biển thì việc cấp giấy phép trục vớt và tổ chức trục vớt tài sản chìm đắm quy định tại khoản 1 Điều này phải được thực hiện trong thời hạn do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định.
Điều 13. Trong trường hợp các tổ chức và cá nhân Việt Nam không thể thực hiện việc trục vớt tài sản chìm đắm ở biển thì Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định việc cho phép tổ chức, cá nhân hợp tác với nước ngoài thực hiện theo pháp luật hiện hành.
BẢO QUẢN VÀ GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM Ở BIỂN
Điều 14. Tổ chức, cá nhân ngẫu nhiên trục vớt được tài sản chìm đắm có trách nhiệm bảo quản các tài sản đó cho đến khi giao lại cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại
Cảng vụ hàng hải hoặc ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chỉ định người, cơ quan có thẩm quyền để tiếp nhận, bảo quản tài sản đó.
1. Văn bản giao nhận tài sản chìm đắm ở biển phải có những nội dung chính sau đây:
a) Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân giao tài sản chìm đắm;
b) Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân nhận tài sản chìm đắm;
c) Thời gian, địa điểm và hoàn cảnh liên quan đến việc phát hiện hoặc trục vớt tài sản chìm đắm;
d) Mô tả đặc điểm, tính năng và các thông tin cần thiết về tài sản chìm đắm.
2. Văn bản giao nhận tài sản chìm đắm phải được đại diện có thẩm quyền của bên giao và bên nhận ký xác nhận. Cảng vụ hàng hải hoặc ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm gửi văn bản giao nhận tài sản chìm đắm cho Cục Hàng hải Việt Nam hoặc ủy ban nhân dân cấp huyện có liên quan.
3. Văn bản giao nhận tài sản chìm đắm phải được lập thành 3 bản: mỗi bên giữ 1 bản và gửi Cục Hàng hải Việt Nam hoặc ủy ban nhân dân cấp huyện 1 bản.
Điều 16. Trong trường hợp tài sản chìm đắm là các trang thiết bị quân sự thì ngay sau khi hoàn tất thủ tục tiếp nhận, Cảng vụ hàng hải hoặc ủy ban nhân dân cấp xã phải chuyển giao tài sản đó cho cơ quan quân sự tại địa phương bảo quản và giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Tài sản chìm đắm được phát hiện hoặc trục vớt là cổ vật, di vật lịch sử - văn hóa thì Cục Hàng hải Việt Nam hoặc ủy ban nhân dân cấp huyện phải báo cáo Bộ Giao thông vận tải hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Văn hóa - Thông tin để phối hợp giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Tài sản chìm đắm là tàu biển hoặc tài sản không phải là cổ vật, di vật lịch sử - văn hóa nhưng có giá trị lớn, thì Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết tài sản đó theo pháp luật hiện hành và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả.
2. Nếu số tiền bán đấu giá thu được không đủ trang trải các khoản chi phí nói tại khoản 1 của Điều này thì chủ sở hữu tài sản có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu. Cục Hàng hải Việt Nam hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết và tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật nếu chủ tài sản không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình.
3. Trường hợp không xác định được chủ sở hữu tài sản chìm đắm quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định này, số tiền bán đấu giá tài sản trục vớt được không đủ bù đắp các khoản chi phí quy định tại khoản 1 Điều này, thì được phép dùng nguồn thu từ phí bảo đảm hàng hải để bù đắp chi phí thiếu hụt đó.
Điều 19. Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản chìm đắm không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không xác định được chủ sở hữu theo quy định tại
Điều 20. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 21. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Cục trưởng Cục Hàng hải chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 39/1998/NĐ-CP về việc xử lý tài sản chìm đắm ở biển
- Số hiệu: 39/1998/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 10/06/1998
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 22
- Ngày hiệu lực: 25/06/1998
- Ngày hết hiệu lực: 01/03/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
