Nghị định 331-TTg được ban hành năm 1959 bởi Thủ tướng Chính phủ quy định về hệ thống cấp bậc hàm, công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc chính quy hóa lực lượng Công an nhân dân vũ trang, áp dụng đối với toàn thể sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ trong lực lượng và có một số quy định liên đới áp dụng cho lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Hệ thống cấp bậc hàm của Công an nhân dân vũ trang
Hệ thống cấp bậc hàm trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang được phân chia thành các cấp và bậc cụ thể từ thấp đến cao như sau:
- Binh sĩ: Gồm hai bậc là Binh nhì và Binh nhất.
- Hạ sĩ quan: Gồm ba bậc là Hạ sĩ, Trung sĩ và Thượng sĩ.
- Sĩ quan cấp Úy: Gồm bốn bậc là Thiếu úy, Trung úy, Thượng úy và Đại úy.
- Sĩ quan cấp Tá: Gồm bốn bậc là Thiếu tá, Trung tá, Thượng tá và Đại tá.
- Sĩ quan cấp Tướng: Gồm bốn bậc là Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng.
- Cấp Chuẩn úy: Được xác định là một cấp bậc chuyển tiếp, chuẩn bị để phong lên sĩ quan và chưa chính thức xếp vào hàng ngũ sĩ quan.
Quy định chi tiết về Công an hiệu
Công an hiệu dành cho sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc lực lượng Công an nhân dân vũ trang được thiết kế thống nhất theo tiêu chuẩn kỹ thuật và mỹ thuật sau:
- Hình dáng và kích thước: Thiết kế hình tròn, đường kính toàn vành là 32 ly.
- Họa tiết trung tâm: Nền màu xanh, ở giữa có hình quốc kỳ đường kính 20 ly.
- Họa tiết bao quanh: Xung quanh quốc kỳ có hai bông lúa ôm dọc, phía dưới hai bông lúa khắc hai chữ "CA", phía ngoài cùng của hai bông lúa là vành màu vàng.
- Phạm vi áp dụng mở rộng: Mẫu công an hiệu này cũng được áp dụng đồng bộ cho các lực lượng thuộc Cảnh sát nhân dân.
Cấp hiệu và phù hiệu của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang
Hệ thống cấp hiệu và phù hiệu của sĩ quan được quy định nghiêm ngặt để phân biệt rõ ràng giữa các cấp bậc và các ngành chuyên môn nghiệp vụ:
- Cấp hiệu sĩ quan (đeo ở vai áo): Sử dụng nền màu xanh tươi lá cây, số lượng sao thể hiện cấp bậc cụ thể (Thiếu: 1 sao; Trung: 2 sao; Thượng: 3 sao; Đại: 4 sao).
- Cấp tướng: Sao màu vàng, cúc áo in hình quốc huy màu vàng, nền cấp hiệu dệt nổi theo kiểu chữ "nhân" và ô vuông.
- Cấp tá: Sao màu bạc, cúc màu bạc có hình sao ở giữa hai bông lúa, có hai vạch màu vàng đặt dọc, nền dệt nổi lóng dọc.
- Cấp úy: Thiết kế tương tự cấp tá nhưng chỉ có một vạch màu vàng đặt dọc.
- Chuẩn úy: Thiết kế giống cấp úy nhưng hoàn toàn không có sao.
- Phù hiệu sĩ quan (đeo ở ve cổ áo): Có nền màu xanh tươi lá cây. Phù hiệu của cấp tướng được viền màu vàng xung quanh, trong khi phù hiệu của cấp tá và cấp úy không có đường viền này.
- Ký hiệu chuyên môn trên phù hiệu sĩ quan: Các ngành chuyên môn được phân biệt bằng các hình tượng trưng riêng biệt đính trên phù hiệu:
- Công binh: Hình nửa bánh xe kết hợp xẻng và cuốc.
- Thông tin: Hình luồng điện.
- Quân y, thú y: Hình chữ thập đỏ (hồng thập tự).
- Quân pháp: Hình chiếc mộc và hai thanh kiếm đặt chéo nhau.
- Quân nhu: Hình bông lúa và tấm vải.
- Xe hơi, mô tô: Hình tay lái và nhíp xe.
- Kỵ binh: Hình móng ngựa cùng thanh kiếm và khẩu súng trường đặt chéo.
- Thủy đội: Hình mỏ neo.
- Văn công: Hình dấu hiệu âm nhạc và cây đàn nguyệt.
- Thể công: Hình cung tên.
Phù hiệu kết hợp cấp hiệu của sĩ quan
Loại phù hiệu này được đeo ở ve cổ áo (áp dụng cho cả trang phục mùa hạ và mùa đông) nhằm nhận diện nhanh chóng cấp bậc từ Chuẩn úy trở lên:
- Quy định về vạch và viền: Cấp úy có một vạch màu vàng nằm ngang; Cấp tá có hai vạch màu vàng nằm ngang; Cấp tướng có đường viền màu vàng xung quanh phù hiệu.
- Quy định về sao:
- Chuẩn úy: Không có sao trên phù hiệu.
- Thiếu úy và Thiếu tá: Có một sao màu bạc đính trên vạch vàng.
- Trung úy và Trung tá: Có hai sao màu bạc đính trên vạch vàng.
- Thượng úy và Thượng tá: Có ba sao màu bạc đính trên vạch vàng.
- Đại úy và Đại tá: Có bốn sao màu bạc đính trên vạch vàng.
- Cấp tướng: Sao màu vàng đặt ở giữa phù hiệu (Thiếu tướng: 1 sao; Trung tướng: 2 sao; Thượng tướng: 3 sao; Đại tướng: 4 sao).
- Đối với sĩ quan chuyên môn: Phù hiệu kết hợp cấp hiệu được chia làm hai phần rõ rệt: phần phía trên (hướng về vai) thể hiện hình tượng trưng chuyên môn; phần phía dưới (hướng về cúc cổ áo) thể hiện cấp bậc tương ứng của sĩ quan đó.
Cấp hiệu và phù hiệu của hạ sĩ quan và binh sĩ
Quy chuẩn nhận diện dành cho lực lượng hạ sĩ quan và binh sĩ được quy định đơn giản hơn nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất:
- Hạ sĩ quan:
- Cấp hiệu (đeo ở vai): Nền màu xanh tươi lá cây, cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa, có vạch màu vàng đặt ngang (Hạ sĩ: 1 vạch; Trung sĩ: 2 vạch; Thượng sĩ: 3 vạch).
- Phù hiệu kết hợp cấp hiệu (đeo ở ve cổ áo): Nền màu xanh tươi lá cây, có vạch màu vàng và sao màu bạc (Hạ sĩ: 1 sao; Trung sĩ: 2 sao; Thượng sĩ: 3 sao). Nếu là hạ sĩ quan chuyên môn thì đính kèm thêm hình tượng trưng chuyên môn ở phần trên phù hiệu.
- Binh sĩ:
- Cấp hiệu (đeo ở vai): Nền màu xanh tươi lá cây, cúc màu bạc có hình hai bông lúa, hoàn toàn không có vạch ngang.
- Phù hiệu kết hợp cấp hiệu (đeo ở ve cổ áo): Nền màu xanh tươi lá cây, sử dụng sao màu bạc để phân cấp (Binh nhì: 1 sao; Binh nhất: 2 sao).
Quy định về lễ phục của sĩ quan cấp tướng và cấp tá
Lễ phục của các sĩ quan cao cấp được thiết kế trang trọng, thể hiện uy nghiêm của lực lượng vũ trang:
- Lễ phục cấp Tướng:
- Mũ: Kiểu mũ lưỡi trai, thân mũ viền màu xanh tươi lá cây dệt nổi vân, quai mũ tết màu vàng, có hai cành tùng màu vàng ôm lấy công an hiệu ở giữa.
- Áo: Thiết kế gài chéo với hai hàng cúc màu vàng (cúc in hình sao giữa hai bông lúa). Cổ áo và bác tay áo viền màu xanh tươi lá cây kèm hai đường chỉ màu vàng; phía dưới bác tay áo có thêm một cành tùng màu vàng. Ve áo đính một cành tùng và một ngôi sao màu vàng.
- Quần: Có nẹp màu xanh tươi lá cây dệt kiểu chữ "nhân", chạy dọc ở giữa là đường viền màu đồng tươi.
- Phụ kiện đi kèm: Cà vạt màu đen vào mùa hạ hoặc màu xám nhạt vào mùa đông; áo sơ mi và găng tay màu trắng; giày da đen ngắn cổ.
- Lễ phục cấp Tá: Được thiết kế tương tự như lễ phục của cấp tướng nhưng giản lược một số chi tiết: mũ lưỡi trai không có cành tùng bao quanh công an hiệu; ve áo không đính sao; bác tay áo không có hình cành tùng; nẹp và đường dọc trên quần có kích thước hẹp hơn so với cấp tướng.
- Các trang bị khác: Ngoài lễ phục của cấp tướng và cấp tá, toàn bộ các trang bị, quân trang khác của sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ trong lực lượng sẽ do Bộ Công an chịu trách nhiệm quy định chi tiết.
Chính sách chuyển đổi cấp bậc hàm và hiệu lực thi hành
Nghị định đưa ra quy định mang tính chuyển tiếp nhằm bảo đảm quyền lợi cho cán bộ, chiến sĩ khi chuyển đổi lực lượng công tác:
- Chuyển đổi cấp bậc hàm tương đương: Tất cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam đã được phong quân hàm, hiện đang phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang sẽ được hưởng cấp bậc hàm Công an nhân dân vũ trang tương đương với cấp bậc quân hàm cũ của mình.
- Trách nhiệm thi hành: Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành toàn bộ các nội dung quy định tại Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HỎA |
| Số: 331-TTg | Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 1959 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua trong khoá họp thứ 8 ngày 29 tháng 4 năm 1958 và đã được ban hành do Sắc lệnh số 109/SL ngày 31-5-1958;
Căn cứ Nghị định số 100/TTg ngày 3 tháng 3 năm 1959 thành lập Công an vũ trang.
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Công an;
Căn cứ nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Hội đồng Chính phủ.
NGHỊ ĐỊNH:
HỆ THỐNG CẤP BẬC HÀM CÔNG AN NHÂN DÂN VŨ TRANG
Điều 2: Hệ thống hàm Công an nhân dân vũ trang gồm các cấp bậc sau đây:
- Binh sĩ: Binh nhì
Binh nhất
- Hạ sĩ quan: Hạ sĩ
Trung sĩ
Thượng sĩ
- Sĩ quan:
Uý: Thiếu uý
Trung uý
Thượng uý
Đại uý
Tá: Thiếu tá
Trung tá
Thượng tá
Đại tá
Tướng: Thiếu tướng
Trung tướng
Thượng tướng
Đại tướng
Chuẩn uý chưa phải là sĩ quan, mới là một cấp, chuẩn bị lên sĩ quan.
Công an hiệu này cũng dùng cho các loại cảnh sát nhân dân.
Điều 4: Cấp hiệu và phù hiệu của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang ấn định như sau:
1- Cấp hiệu sĩ quan:
Cấp hiệu sĩ quan đeo ở vai áo, nền màu xanh tươi lá cây và có sao:
- Thiếu uý, thiếu tá, thiếu tướng: một sao -
- Trung uý, trung tá, trung tướng: hai sao
- Thượng uý, thượng tá, thượng tướng: ba sao
- Đại uý, đại tá, đại tướng: bốn sao
Cấp hiệu của cấp tướng: sao màu vàng, cúc hình quốc huy vàng, nền dệt nổi kiểu chữ nhân và ô vuông.
Cấp hiệu của cấp tá: sao màu bạc, cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa, hai vạch màu vàng đặt dọc, nền dệt nổi lóng dọc.
Cấp hiệu của cấp uý: như cấp tá nhưng chỉ có một vạch màu vàng đặt dọc.
Cấp hiệu của chuẩn uý: giống như cấp uý nhưng không có sao.
2. Phù hiệu sĩ quan:
Phù hiệu sĩ quan đeo ở ve cổ áo màu xanh tươi lá cây.
Phù hiệu cấp tướng viền màu vàng, phù hiệu cấp tá và uý không viền.
Phù hiệu sĩ quan chuyên môn có hình tượng trưng như sau:
- Công binh: hình nửa bánh xe và xẻng cuốc.
- Thông tin: hình luồng điện.
- Quân y, thú y: hình hồng thập tự.
- Quân pháp: hình mộc và hai thanh kiếm đặt chéo.
- Quân nhu: hình bông lúa và tấm vải.
- Xe hơi, mô tô: hình tay lái và nhíp xe.
- Kỵ binh: hình móng ngựa có thanh kiếm và khẩu súng trường đặt chéo.
- Thuỷ đội: hình mỏ neo.
- Văn công: hình dấu hiệu âm nhạc và đàn nguyệt.
- Thể công: hình cung tên.
Điều 5: Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang ấn định như sau:
Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của sĩ quan màu xanh tươi lá cây, đeo ở ve cổ áo mùa hạ hoặc mùa đông nhằm phân biệt các cấp bậc của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang từ cấp chuẩn uý trở lên.
1. Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của sĩ quan:
a) Cấp uý: một vạch màu vàng đặt theo chiều ngang phù hiệu.
b) Cấp tá: hai vạch màu vàng đặt theo chiều ngang phù hiệu.
c) Cấp tướng: viền màu vàng.
- Chuẩn uý: không có sao.
- Thiếu uý, thiếu tá: có một sao màu bạc trên vạch màu vàng.
- Trung uý, trung tá: có hai sao màu bạc trên vạch màu vàng.
- Thượng uý, thượng tá: có ba sao màu bạc trên vạch màu vàng.
- Đại uý, đại tá: có bốn sao màu bạc trên vạch màu vàng.
- Thiếu tướng: giữa phù hiệu có một sao màu vàng.
- Trung tướng: giữa phù hiệu có hai sao màu vàng.
- Thượng tướng: giữa phù hiệu có ba sao màu vàng.
- Đại tướng: giữa phù hiệu có bốn sao màu vàng.
2. Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của các sĩ quan chuyên môn:
a) Phần trên (về phía vai) có hình tượng trưng chuyên môn như đã quy định ở đoạn 2 Điều 4 trên.
b) Phần dưới (về phía cúc cổ áo) chỉ cấp bậc sĩ quan như đã quy định cho các cấp sĩ quan ở đoạn 1 trên đây.
Điều 6: Cấp hiệu và phù hiệu của hạ sĩ quan và binh sĩ Công an nhân dân vũ trang ấn định như sau:
1. Cấp hiệu hạ sĩ quan:
Cấp hiệu hạ sĩ quan đeo ở vai áo, màu xanh tươi lá cây, cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa và có vạch màu vàng đặt ngang.
Hạ sĩ: một vạch ngang
Trung sĩ: hai vạch ngang
Thượng sĩ: ba vạch ngang
2. Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của hạ sĩ quan:
Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của hạ sĩ quan đeo ở ve cổ áo, màu xanh tươi lá cây, có vạch màu vàng, và có sao màu bạc:
Hạ sĩ: một sao
Trung sĩ: hai sao
Thượng sĩ: ba sao
Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của hạ sĩ quan chuyên môn có thêm hình tượng trưng như quy định ở đoạn 2 Điều 4 trên.
3. Cấp hiệu và phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của binh sĩ:
- Cấp hiệu đeo ở vai nền xanh tươi lá cây, cúc màu bạc có hai bông lúa, không có vạch.
- Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu đeo ở ve áo, màu xanh tươi lá cây và có sao màu bạc.
Binh nhì: một sao
Binh nhất: hai sao
Điều 7: Lễ phục của cấp tướng và cấp tá ấn định như sau:
1. Cấp tướng:
- Mũ lưỡi trai; thân mũ viền xanh tươi lá cây, dệt nổi vân, quai tết màu vàng, có hai cành tùng màu vàng bao quanh công an hiệu.
- Áo: gài chéo, hai hàng cúc, cổ viền xanh tươi lá cây, có hai đường chỉ màu vàng, bác tay viền xanh tươi lá cây, có hai đường chỉ màu vàng, phía dưới có một cành tùng màu vàng. Ve áo có một cành tùng và một sao màu vàng. Cúc áo màu vàng có hình sao giữa hai bông lúa.
- Quần: có nẹp màu xanh tươi lá cây, dệt kiểu chữ nhân, giữa có dọc màu đồng tươi.
- Cờravát: mùa hạ: màu đen; mùa đông: màu xám nhạt
- Sơ mi và bít tất tay: màu trắng
- Giầy ngắn cổ: da đen.
2. Cấp tá:
Lễ phục của cấp tá như của cấp tướng, nhưng:
- Mũ lưới trai: không có cành tùng
- Áo: ve áo không có sao, bác tay không có cành tùng.
- Quần: nẹp và dọc hẹp hơn của cấp tướng.
Điều 10: Ông Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phạm Văn Đồng (Đã ký) |
- 1Luật Công an nhân dân 2005
- 2Quyết định 804-QĐ/CA năm 1959 về việc định ngày cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, bắt đầu đeo công an hiệu, phù hiệu, cấp hiệu do Bộ trưởng Bộ Công An ban hành
- 3Luật chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân 1958
- 4Nghị định 100-TTg năm 1959 về việc thống nhất các đơn vị bộ đội quốc phòng, công an biên phòng, cảnh sát vũ trang thành Công an nhân dân vũ trang do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định 331-TTg năm 1959 Quy định hệ thống cấp bậc hàm Công an nhân dân vũ trang và công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu của Công an nhân dân vũ trang do Thủ tướng Chính ban hành
- Số hiệu: 331-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 01/09/1959
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 37
- Ngày hiệu lực: 16/09/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
