Ngày 12 tháng 2 năm 1976, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29-CP về chế độ báo cáo thống kê nhanh của Nhà nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thiết lập hệ thống thông tin thống kê nhanh, phục vụ đắc lực cho công tác chỉ đạo, điều hành thường xuyên và kịp thời của Thường vụ Hội đồng Chính phủ cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế và ngân sách quốc gia.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chế độ báo cáo thống kê nhanh của Nhà nước được áp dụng bắt buộc đối với các đơn vị kinh tế cơ sở, các Bộ, Tổng cục, các Ủy ban hành chính và cơ quan thống kê cấp tỉnh, thành phố, huyện, thị xã được quy định là đơn vị báo cáo nhanh của Nhà nước. Các cơ quan, đơn vị này có trách nhiệm thực hiện báo cáo định kỳ hoặc đột xuất gửi về Tổng cục Thống kê theo đúng thời gian và biểu mẫu quy định.
Mục đích của chế độ báo cáo thống kê nhanh
- Phản ánh kịp thời, trung thực và liên tục tình hình diễn biến thực tế trong quá trình thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước qua từng khoảng thời gian ngắn.
- Đánh giá khả năng hoàn thành hoặc vượt mức kế hoạch, đồng thời phát hiện sớm các khó khăn khách quan và trở ngại chủ quan để Thường vụ Hội đồng Chính phủ kịp thời chỉ đạo, điều hòa, phối hợp và đôn đốc các ngành, các cấp.
- Tạo cơ sở dữ liệu đồng bộ giúp các Bộ, Tổng cục, Ủy ban hành chính địa phương cải tiến công tác nắm bắt tình hình, nâng cao hiệu quả quản lý ngành và lãnh thổ.
- Đặt nền móng kỹ thuật cho việc ứng dụng máy tính và công nghệ hiện đại vào công tác thống kê của Nhà nước.
Nội dung và hệ thống chỉ tiêu báo cáo
Chế độ báo cáo thống kê nhanh được phân chia thành hai loại hình báo cáo chính với các yêu cầu cụ thể:
- Báo cáo định kỳ: Được quy định trước về nội dung và kỳ hạn. Các đơn vị cơ sở phải thu thập số liệu thực tế, không được ước tính, đồng thời phản ánh rõ các sáng kiến, khó khăn và nguyên nhân ảnh hưởng đến kế hoạch. Các Bộ, Tổng cục, Ủy ban hành chính cấp tỉnh sau khi tổng hợp phải gửi cả số liệu, nhận định tình hình và đề xuất biện pháp xử lý về Tổng cục Thống kê.
- Báo cáo đột xuất: Không định trước nội dung và kỳ hạn. Khi phát sinh tình huống bất thường, các đơn vị cơ sở phải báo cáo ngay lên cấp trên và đồng gửi Tổng cục Thống kê. Đối với các Bộ, ngành, địa phương, khi xảy ra sự việc đột xuất thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội trong phạm vi quản lý, phải báo cáo ngay lên Thủ tướng Chính phủ và đồng gửi Tổng cục Thống kê để tổng hợp, phân tích chung.
Hệ thống chỉ tiêu báo cáo nhanh bao quát toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội cốt lõi bao gồm:
- Nông nghiệp: Tiến độ sản xuất các loại cây trồng chính theo từng thời vụ (chuẩn bị, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch); diễn biến thiên tai, dịch bệnh đối với cây trồng và gia súc.
- Công nghiệp: Kết quả sản xuất và các khó khăn phát sinh đối với các sản phẩm là tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếu, đi kèm biện pháp giải quyết.
- Xây dựng cơ bản: Tiến độ thi công các công trình trọng điểm của Nhà nước; công tác xây đê, kè và chuẩn bị phòng chống bão lụt; tiến độ xây dựng nhà ở tại đô thị, khu công nghiệp tập trung; tiến độ khai hoang, phục hóa.
- Giao thông vận tải: Tình hình bốc xếp, tồn kho hàng nhập khẩu tại cảng biển và đường sắt; tình trạng tàu ra vào và ứ đọng tại cảng biển (bao gồm cả tiền phạt ứ đọng); khối lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách trên các tuyến đường chính, đặc biệt là tuyến vận chuyển giữa hai miền Nam - Bắc.
- Cung ứng vật tư: Tình hình xuất, nhập, tồn kho và cung ứng các loại vật tư kỹ thuật chủ yếu.
- Thương nghiệp: Tiến độ nhập kho lương thực; công tác thu mua, điều động hàng hóa về trung ương và phục vụ xuất khẩu; lượng tồn kho các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu; biến động giá cả tại các chợ đại diện; tình hình hàng hóa xuất nhập khẩu qua ngoại thương.
- Ngân hàng: Tình hình thu, chi tiền mặt trong nền kinh tế.
- Lao động: Số lượng lao động được điều động thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, như điều động đi xây dựng các vùng kinh tế mới.
- Đời sống, y tế và giáo dục: Tình hình đời sống của nông dân trong thời kỳ giáp hạt; diễn biến và kết quả phòng chống dịch bệnh ở người; kết quả khai giảng và thi tốt nghiệp của các cấp học phổ thông.
Thời gian, phạm vi và phương thức báo cáo
- Thời gian báo cáo: Đối với các chỉ tiêu tiến độ thực hiện kế hoạch, tần suất báo cáo quy định là 5 ngày một lần. Một số chỉ tiêu đặc thù chưa thể theo dõi thường xuyên có thể nới rộng lên 10 hoặc 15 ngày một lần nếu được Tổng cục Thống kê chấp thuận. Các chỉ tiêu thời vụ hoặc bất thường sẽ báo cáo theo thực tế phát sinh. Thời hạn truyền nhận báo cáo phải bảo đảm chậm nhất 2 ngày sau kỳ báo cáo Tổng cục Thống kê phải nhận được đầy đủ dữ liệu.
- Phạm vi thu thập: Tập trung thu thập số liệu tại các đơn vị kinh tế trọng điểm và từng bước mở rộng phạm vi. Các đơn vị do trung ương quản lý gửi báo cáo thẳng về Tổng cục Thống kê hoặc qua cơ quan quản lý cấp trên, đồng thời phải gửi cho Chi cục thống kê tỉnh để phục vụ quản lý theo lãnh thổ.
- Phương thức báo cáo: Sử dụng các phương tiện truyền tin nhanh nhất (điện thoại, điện báo...) nhưng phải bảo đảm tuyệt đối bí mật đối với các chỉ tiêu mật theo quy định.
Tổ chức thực hiện và phân định trách nhiệm
- Tổng cục Thống kê: Có trách nhiệm ban hành hướng dẫn cụ thể về biểu mẫu, đơn vị báo cáo, thời hạn và phương thức truyền tin sau khi thống nhất với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Văn phòng Phủ thủ tướng và Tổng cục Bưu điện. Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm tổng hợp, phân tích trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ, đồng thời giám sát kỷ luật báo cáo và kiến nghị xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm (báo cáo chậm, không báo cáo hoặc báo cáo sai sự thật).
- Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị báo cáo: Chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật về tính chính xác, trung thực và đúng hạn của số liệu báo cáo.
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban hành chính cấp tỉnh: Có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các đơn vị thuộc quyền thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo. Trường hợp ban hành thêm chỉ tiêu phục vụ ngành, địa phương thì không được gây trở ngại cho chế độ báo cáo chung của Nhà nước và phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của Tổng cục Thống kê.
- Tổng cục Bưu điện: Phối hợp với Tổng cục Thống kê xây dựng phương án truyền tin thông suốt, quy định chế độ ưu tiên truyền nhận báo cáo thống kê trên mọi phương tiện bưu điện, điện thoại, điện báo; phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn thanh toán cước phí thuận tiện (ngân sách Nhà nước hỗ trợ cước phí cho các đơn vị kinh tế tập thể).
Hiệu lực thi hành
Nghị định 29-CP có hiệu lực thi hành và áp dụng chế độ báo cáo thống kê nhanh từ ngày 1 tháng 3 năm 1976. Kể từ ngày này, các quy định trước đây về báo cáo tiến độ, báo cáo nhanh 5 ngày, 7 ngày, 10 ngày quy định tại Nghị định số 179-CP ngày 28-12-1967 của Hội đồng Chính phủ và Chỉ thị số 167-TTg ngày 13-6-1972 của Thủ tướng Chính phủ chính thức bãi bỏ, ngoại trừ quy định về tiến độ sản xuất nông nghiệp 10 ngày ban hành theo Nghị định số 179-CP vẫn tiếp tục được duy trì hiệu lực.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 29-CP | Hà Nội, ngày 12 tháng 02 năm 1976 |
VỀ VIỆC BAN HÀNH CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ NHANH CỦA NHÀ NƯỚC.
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ nghị định số 27-CP ngày 22-2-1962 của Hội đồng Chính phủ quy định các nguyên tắc về việc lập và ban hành các chế độ, biểu mẫu và phương án điều tra thống kê;
Căn cứ nghị quyết số 2-CP ngày 2-1-1971 của Hội đồng Chính phủ về việc tổ chức lại hệ thống thông tin kinh tế (phần nói riêng về hệ thống thông tin thống kê và kế toán);
Để đáp ứng yêu cầu thông tin của Thường vụ Hội đồng Chính phủ trong công tác chỉ đạo về quản lý kinh tế trong tình hình mới;
Theo đề nghị của đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.
NGHỊ ĐỊNH
Điều 1. – Nay ban hành kèm theo nghị định này chế độ báo cáo thống kê nhanh của Nhà nước.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÓ THỦ TƯỚNG
Nguyễn Duy Trinh |
CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ NHANH CỦA NHÀ NƯỚC
(ban hành kèm theo nghị định số 29-CP ngày 12-2-1976 của Hội đồng Chính phủ)
I. MỤC ĐÍCH CỦA CHẾ ĐỘ BÁO CÁO
1. Phản ánh kịp thời, trung thực, qua từng thời gian ngắn tình hình diễn biến trong quá trình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước, khả năng hệ thống hoặc vượt thực hiện Nhà nước, những khó khăn khách quan, chủ yếu, những trở ngại do chủ quan quyết định gây ra, để làm căn cứ cho Thường vụ Hội đồng Chính phủ chỉ đạo thường xuyên, điều hòa, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp nhằm hệ thống thắng lợi kế hoạch Nhà nước và ngân sách Nhà nước.
2. Đặc cơ sở cho các Bộ, Tổng cục, Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cải tiến công tác nắm tình hình trong ngành, trong địa phương, phục vụ sự chỉ đạo và quản lý của Bộ, Tổng cục. Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố đồng thời đáp ứng yêu cầu thông tin của Thường vụ Hội đồng Chính phủ.
3. Đặc cơ sở cho việc sử dụng máy tính vào công tác thống kê.
II. NỘI DUNG BÁO CÁO VÀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU BÁO CÁO
A. Nội dung báo cáo
1. Loại báo cáo định kỳ: được quy định trước nội dung và kỳ hạn báo cáo.
a) Đối với các đơn vị cơ sở được quy định là đơn vị báo cáo nhanh của Nhà nước phải thu thập số liệu thực tế (không ước tính) để làm báo cáo theo đúng biểu mẫu do Tổng cục Thống kê ban hành. Ngoài phần số liệu, phải phản ánh những cố gắng hoặc sáng kiến đã thực hiện và những khó khăn trở ngại có ảnh hưởng đến tình hình kế hoạch, phân tích nguyên nhân và đề ra những vấn đề cần giải quyết (nếu có).
b) Đối với các Bộ, Tổng cục, Ủy ban hành chính tỉnh được quy định là đơn vị báo cáo nhanh đối với Nhà nước, thì sau khi tổng hợp và xử lý phải báo cáo Tổng cục Thống kê cả số liệu, tình hình và biện pháp xử lý.
2. Loại báo cáo đột xuất: không định trước nội dung và kỳ hạn
a) Đối với các đơn vị cơ sở được quy định là đơn vị báo cáo nhanh của Nhà nước khi có tình hình đột xuất nếu chưa đến kỳ báo cáo cũng phải báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên và đồng gửi Tổng cục Thống kê để tổng hợp.
b) Đối với tất cả các Bộ, Tổng cục, Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khi có tình hình đột xuất xảy ra ở các đơn vị cơ sở thuôc trách nhiệm chỉ đạo, quản lý của mình, phải báo cáo ngay lên Thủ tướng Chính phủ theo điều 32 bản quy định cụ thể về chế độ làm việc của Hội đồng Chính phủ ban hành theo quyết định số 141-CP ngày 14 tháng 6 năm 1974. Các báo cáo đột xuất này nếu thuộc về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội thì phải đồng gửi Tổng cục Thống kê để Tổng cục Thống kê tổng hợp, phân tích tình hình chung trong nền kinh tế quốc dân.
B. Hệ thống chỉ tiêu báo cáo
1. Nông nghiệp:
- Tiến độ sản xuất các loại cây chính trong từng thời vụ qua các khâu chuẩn bị, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch;
- Thiên tai, dịch bệnh đối với cây trồng và gia súc.
2. Công nghiệp:
- Kết quả sản xuất và những khó khăn xảy ra trong quá trình sản xuất một số loại sản phẩm là tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếu. Biện pháp giải quyết.
3. Xây dựng cơ bản:
- Tiến độ thi công các công trình trọng điểm của Nhà nước;
- Xây dựng đê, kè và chuẩn bị chống lũ, lụt, bão;
- Tiến độ xây dựng nhà ở tại các thành phố, khu công nghiệp tận trung;
- Tiến độ khai hoang, phục hóa.
4. Giao thông vận tải
- Bốc xếp, tồn kho hàng nhập tại cảng biển, trên đường sắt;
- Tầu ra, vào và ứ đọng tại các cảng biển. Tiền phạt do ứ đọng tầu.
- Vận chuyển một số loại hàng và khách trên những tuyến đường chính kể cả vận chuyển giữa 2 miền
5. Cung ứng vật tư:
- Xuất, nhập, tồn kho và cung ứng một số loại vật tư kỹ thuật chủ yếu.
6. Thương nghiệp
- Tiến độ nhập kho lương thực;
- Thu mua, điều về trung ương và giao cho xuất khẩu một số loại hàng;
- Tồn kho một số loại mặt hàng tiêu dùng chủ yếu;
- Giá cả một số mặt hàng ở một số chợ đại diện;
- Hàng xuất, nhập khẩu qua ngoại thương.
7. Ngân hàng
- Thu, chi tiền mặt
8. Lao động
- Số lượng lao động điều động cho một số nhiệm vụ quan trọng như điều đi xây dựng vùng kinh tế mới...
9. Đời sống y tế, giáo dục:
- Tình hình đời sống nông dân khi giáp hạt;
- Diễn biến và kết quả phòng, chống dịch bệnh cho người;
- Kết quả khai giảng và thi tốt nghiệp của các cấp học phổ thông.
Ngoài hạch toán chỉ tiêu báo cáo trên, các đơn vị cần phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch, khả năng hoàn thành kế hoạch, nguyên nhân chủ quan, khách quan, những khó khăn chủ yếu và những tình hình đặc biệt đột xuất xảy ra, nếu có.
Khi có yêu cầu mới, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê có thể sửa đổi bổ sung hệ thống chỉ tiêu báo cáo nhanh sau khi trao đổng thống nhất với Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ thủ tướng.
III. THỜI GIAN BÁO CÁO, PHẠM VI THU THẬP VÀ PHƯƠNG THỨC BÁO CÁO
1. Thời gian báo cáo
a) Kỳ báo cáo
Đối với các chỉ tiêu phản ánh tiến độ thực hiện kế hoạch phải báo cáo 5 ngày một lần. Riêng một số ít chỉ tiêu mà các đơn vị cơ sở chưa theo dõi, tổng hợp được thường xuyên nếu được Tổng cục Thống kê đồng ý thì kỳ báo cáo có thể nới rộng hơn (10 hoặc 15 ngày một lần)
Đối với những chỉ tiêu có tính chất thời vụ thì kỳ báo cáo được quy định thích hợp với thời vụ. Những chỉ tiêu mang tính chất bất thường hoặc nhất thời thì chỉ quy định kỳ báo cáo khi có tình hình xảy ra (như thiên tai, dịch bệnh đối với người và cây trồng, gia súc...)
b) Thời gian báo cáo
Cần quy định chặt chẽ đối với từng khâu (thu thập, truyền đơn, tổng hợp) sao cho chậm nhất là 2 ngày sau kỳ báo cáo Tổng cục Thống kê đã nhận được đầy đủ các báo cáo của các đơn vị để Tổng cục Thống kê có thể tổng hợp tình hình trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ. Thời hạn này phải phấn đấu rút ngắn hơn nữa trong năm tới.
2. Phạm vi thu thập
Căn cứ vào tình hình và khả năng hiện nay, trừ một số ít chỉ tiêu có điều kiện thu thập toàn bộ, còn các chỉ tiêu khác chủ yếu là thu thập ở các đơn vị kinh tế trọng điểm và phấn đấu mở rộng dần phạm vi thu thập, cần quy định đơn vị báo cáo và đường đi của báo cáo một cách hợp lý nhằm tạo điều kiện cho cơ quan thống kê Nhà nước từng bước mở rộng việc trực tiếp thu thập và kiểm tra báo cáo của các đơn vị kinh tế cơ sở. Những đơn vị kinh tế do trung ương quản lý được quy định gởi báo cáo nhanh thẳng lên Tổng cục Thống kê hoặc qua cơ quan quản lý cấp trên thì phải đồng gửi báo cáo tới Chi cục thống kê tỉnh để phục vụ cho việc quản lý kinh tế theo lãnh thổ.
3. Phương thức báo cáo
Các báo cáo nhanh phải được truyền đi bằng phương tiện truyền tin nhanh nhất, nhưng phải bảo đảm bí mật đối với một số chỉ tiêu, Tổng cục Thống kê và Tổng cục Bưu điện phải thống nhất kế hoạch truyền tin đối với báo cáo nhanh và hướng dẫn cơ quan thống kê Nhà nước cùng với cơ quan bưu điện cấp tỉnh, huyện quy định cụ thể phương thức truyền tin đối với từng đơn vị báo cáo đóng tại địa phương.
1. Đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê căn cứ vào chế độ này sẽ ban hành những quy định cụ thể thực hiện chế độ báo cáo này, gồm nội dung biểu mẫu báo cáo, thời gian báo cáo, đơn vị trọng điểm phải báo cáo, cơ quan tổng hợp báo cáo và nơi gửi báo cáo.
2. Thủ trưởng các đơn vị, các cơ quan được quy định là đơn vị báo cáo theo chế độ báo cáo nhanh của Nhà nước phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc chấp hành chế độ báo cáo, về tính chính xác, đúng hạn của báo cáo. Trường hợp gặp khó khăn trong việc tổ chức thực hiện thì phải báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan thống kê Nhà nước. Cơ quan quản lý cấp trên có trách nhiệm giải quyết những điều kiện, phương tiện vật chất cần thiết cho công tác hạch toán và báo cáo thống kê của cấp dưới; cơ quan thống kê Nhà nước có trách nhiệm giải quyết các vấn đề nghiệp vụ phù hợp với điều kiện hạch toán và báo cáo của các đơn vị báo cáo. Cơ quan thống kê Nhà nước phải theo dõi chặt chẽ tình hình chấp hành kỷ luật báo cáo của các đơn vị báo cáo, kiến nghị với các cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị báo cáo các hình thức xử lý đối với thủ trưởng những đơn vị nhiều lần báo cáo chậm hoặc không báo cáo hoặc cố ý báo cáo sai sự thật.
3. Các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị cấp dưới thực hiện tốt chế độ báo cáo này, kết hợp với việc cải tiến công tác báo cáo nhanh trong ngành hoặc địa phương mình. Các ngành hoặc địa phương khi cần ban hành thêm chỉ tiêu, biểu mẫu báo cáo nhanh phục vụ sự chỉ đạo của ngành mình, địa phương mình thì phải bảo đảm không trái, không gây trở ngại cho việc thực hiện chế độ báo cáo nhanh của Nhà nước và phải được sự thỏa thuận bằng văn bản của Tổng cục Thống kê như nghị định số 72-CP ngày 5 tháng 4 năm 1974 của Hội đồng Chính phủ đã quy định.
4. Đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện phối hợp với Tổng cục Thống kê có trách nhiệm xây dựng kế hoạch chấn chỉnh và tăng cường hạch toán truyền tin nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin kinh tế trong thời gian trước mắt và những năm tới, và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các vấn đề ngoài phạm vi quyền hạn của Tổng cục Bưu điện, quy định cụ thể chế độ ưu tiên cho các báo cáo thống kê, trước hết là báo cáo nhanh, trên mọi phương tiện truyền tin (đường bưu điện thoại, điện báo) và giải quyết cước phí, cách thanh toán thuận tiện cho các đơn vị kinh tế cơ sở. Tổng cục Thống kê cùng với Tổng cục Bưu điện và Bộ Tài chính quy định cụ thể cách thanh toán các cước phí bưu điện trong công tác báo cáo thống kê. Đối với các đơn vị kinh tế tập thể, cước phí này do ngân sách Nhà nước chịu.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÓ THỦ TƯỚNG
Nguyễn Duy Trinh |
- 1Quyết định 44-TTg năm 1961 ban hành bản quy định chế độ báo cáo nhanh về tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Chỉ thị 10/2004/CT-UB về tuyên truyền phổ biến Luật Thống kê trên địa bàn Thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành
- 3Quyết định 21/2001/QĐ-BNN-KH về chế độ báo cáo thống kê ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 1Nghị định 27-CP năm 1962 quy định các nguyên tắc về việc lập và ban hành các chế độ, biểu mẫu báo cáo thống kê và phương án điều tra do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Quyết định 44-TTg năm 1961 ban hành bản quy định chế độ báo cáo nhanh về tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Chỉ thị 10/2004/CT-UB về tuyên truyền phổ biến Luật Thống kê trên địa bàn Thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành
- 4Quyết định 21/2001/QĐ-BNN-KH về chế độ báo cáo thống kê ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
Nghị định 29-CP năm 1976 về chế độ báo cáo thống kê nhanh của Nhà nước do Hội Đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 29-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 12/02/1976
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Duy Trinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 27/02/1976
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
