Nghị định 262-TC ban hành năm 1946 do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành nhằm điều chỉnh giá giấy tín chỉ và các loại thuế tem áp dụng trong các giao dịch hành chính, dân sự và thương mại tại Việt Nam.
Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm các quy định về giá giấy tín chỉ, tem dán theo khổ giấy, tem đơn từ, tem biên lai, tem séc, tem quảng cáo và tem tư pháp. Đối tượng áp dụng là các cơ quan công sở, phòng giấy của công lại, các tư gia, ngân hàng, cùng mọi cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch hoặc thủ tục hành chính liên quan đến việc sử dụng giấy tín chỉ và dán tem thuế.
Biểu giá giấy tín chỉ và các loại thuế tem sửa đổi
Nghị định quy định chi tiết mức giá mới đối với giấy tín chỉ và các loại tem dán cụ thể như sau:
- Giấy tín chỉ và tem dán theo khổ giấy:
- Giấy tín chỉ khổ lớn (kích thước 0,30 x 0,42) có giá là 2 đồng 40; khổ nhỡ (kích thước 0,25 x 0,352) có giá là 1 đồng 60; khổ nhỏ (kích thước 0,25 x 0,176) có giá là 0 đồng 80.
- Tem dán theo khổ giấy đối với giấy khổ nhỏ là 0 đồng 60; giấy khổ nhỡ là 1 đồng 20; giấy khổ lớn là 1 đồng 80.
- Tem dán các loại đơn từ được áp dụng đồng nhất một mức là 0 đồng 40.
- Tem dán vào các loại giấy biên lai:
- Biên lai nhận tiền: Miễn thuế đối với các khoản tiền từ 1 đồng đến 10 đồng. Thu thuế 0 đồng 10 đối với khoản tiền từ 10 đồng 01 đến 100 đồng. Đối với các khoản tiền từ 100 đồng 01 trở lên, cứ mỗi 100 đồng tăng thêm sẽ tính thêm 0 đồng 10 thuế tem (phần lẻ dưới 100 đồng cũng được tính tròn là 100 đồng để tính thuế). Mức thuế tem biên lai tối đa khống chế ở mức 30 đồng 00.
- Biên lai gửi tiền tại ngân hàng và các công sở: Áp dụng mức thuế cố định là 0 đồng 20.
- Biên lai nhận giấy tờ, hồ sơ, đồ đạc (không phải tiền bạc): Áp dụng mức thuế cố định là 0 đồng 10.
- Tem séc và tem chuyển chương ngân hàng:
- Tem dùng cho séc (chèque) có mức thuế là 0 đồng 20.
- Tem dùng cho việc chuyển chương tại ngân hàng (virement en banque) có mức thuế là 0 đồng 20.
- Tem dán quảng cáo, yết thị bằng giấy thường:
- Quảng cáo hoặc yết thị có diện tích bề mặt chưa đầy 40 phân vuông chịu mức thuế là 0 đồng 20.
- Quảng cáo hoặc yết thị có diện tích bề mặt từ 40 phân vuông trở lên chịu mức thuế là 0 đồng 40.
- Tem dán vào tờ tư pháp, lý lịch: Áp dụng mức thuế cố định là 0 đồng 20.
Nguyên tắc áp dụng đối với các loại thuế tem khác
Tất cả các loại thuế tem không được liệt kê hoặc sửa đổi cụ thể tại Điều 1 của Nghị định này sẽ tiếp tục được giữ nguyên và áp dụng theo mức giá cũ đã ban hành trước đó.
Quy định chuyển tiếp và biện pháp xử lý đối với giấy tín chỉ cũ
Để đảm bảo việc chuyển giao giữa biểu giá cũ và biểu giá mới được thực hiện thông suốt, Nghị định đưa ra các hướng dẫn chuyển tiếp nghiêm ngặt:
- Kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, toàn bộ giấy tín chỉ cũ còn tồn tại các công sở, phòng giấy của công lại hoặc tại các tư gia bắt buộc phải dán thêm tem cho đủ số thuế mới thì mới được phép đưa vào sử dụng.
- Trong trường hợp không có sẵn tem để dán bổ sung, người sử dụng có thể đến nộp số tiền thuế tem còn thiếu tại phòng thuế trước bạ hoặc xin đóng thêm dấu tem theo quy định tại Điều 13 của Bộ luật thuế tem.
- Đối với số lượng giấy tín chỉ hiện còn tồn kho tại sở Trước bạ và Điền thổ, cơ quan quản lý có trách nhiệm đóng thêm dấu tem theo giá thuế mới trước khi phân phối.
- Các công sở và công lại phải thực hiện việc dán thêm tem đầy đủ vào các loại sổ sách thuộc đối tượng chịu thuế tem trước khi đưa vào sử dụng thực tế.
- Mọi hành vi vi phạm, không tuân thủ các quy định tại Nghị định này sẽ bị xử phạt nghiêm khắc theo các chế tài được quy định trong Bộ luật thuế tem hiện hành.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 1946. Ông Giám đốc sở Trước bạ và Điền thổ chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc đôn đốc, giám sát và tổ chức thi hành toàn bộ các nội dung của Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| | Hà Nội, ngày 12 tháng 03 năm 1946 |
Chiếu nghị định ngày mồng 6 tháng 11 năm 1929 với những nghị định sửa đổi sau, ấn định thuế tem.
Theo lời đề nghị của ông Giám đốc sở Trước bạ và Điền thổ.
Điều 1: – Giá giấy tín chỉ và những thuế tem sau này sửa đổi lại theo giá biểu định như dưới đây:
I – Giấy tín chỉ và tem dán theo khổ giấy (L.T.Điều 3, 63 và 64).
a) Giấy tín chỉ:
- Khổ lớn 0,30 x 0,42……2đ 40
- Khổ nhỡ 0,25 x 0,352….1đ 60
- Khổ nhỏ 0,25 x 0,176….0đ 80
b) Tem dán theo khổ giấy:
- Giấy khổ nhỏ 0,25 x 0,176 phải dán tem 0đ 60
- Giấy khổ nhỡ 0,25 x 0,352 - 1đ 20
- Giấy khổ lớn 0,30 x 0,42… - 1đ 80
c) Tem dán các đơn từ:
Nhất luật……………………………….....0 đ 40
II – Tem dán vào giấy biên lai (L. T. điều 84)
a) Biên lai nhận tiền:
- Từ 1 đ 00 đến 10 đ................ ………..miễn thuế.
- Từ 10 đ 01 đến 100 đ............ ………..0 đ 10.
- Từ 100 đ 01 trở lên cứ mỗi trăm tính thêm 0 đ 10.
Phần lẻ một trăm đồng, cũng tính tròn là một trăm để tính thuế. Thuế tem biên lai nhiều nhất chỉ đến 30 đ 00 là cùng.
b) Biên lai gửi tiền ở ngân hàng và các công sở:
Thuế tem nhất định là .................................... 0 đ 20.
c) Biên lai nhận giấy má, đồ đạc, ngoài tiền bạc :
Thuế nhất định là .......................................... 0 đ 10.
III – Tem “séc” ( chèque) và tem chuyển chương ở ngân hàng ( virement en banque)
a) Tem “séc”( L.T. Điều 96).......................... 0 đ 20.
b) Chuyển chương ở ngân hàng ( L.T. Điều 106) 0 đ 20.
IV – Tem dán quảng cáo, yết thị:
Quảng cáo hay yết thị bằng giấy thường ( L.T. Điều 111) :
- Bề mặt chưa đầy 40 phân vuông.................. 0 đ 20.
- Bề mặt quá 40 phân vuông........................... 0 đ 40.
V- Tem dán vào ờ tư pháp, lý lịch ( L.T. Điều 173) 0 đ 20.
Điều 2:– Những thứ thuế tem không bị sửa đổi trong điều thứ nhất đều giữ theo giá cũ.
Điều 3:– Nghị định này bắt đầu thi hành từ ngày mồng 1 tháng 4 năm 1946.
Bắt đầu từ ngày ấy, những giấy tính chỉ cũ còn lại ở các công sở, phòng giấy các công lại hoặc các tư gia phải dán thêm tem cho đủ số thuế định ở điều thứ nhất đoạn I – a, mới được đem dùng. Nếu không sẵn có tem để đánh thêm thì có thể đến nộp số tiền tem thiếu ở một phòng thuế trước bạ.hay là xin đóng thêm dấu tem theo như thể lệ định ở điều thứ 13 trong bộ luật thuế tem.
Số giấy tín chỉ hiện còn lại ở các kho của sở Trước bạ và Điền thổ ngày mồng 1 tháng 4 năm 1946 cũng phải đóng thêm dấu tem theo như giá thuế mới. Bắt đầu từ ngày mồng 1 tháng 4 năm 1946, các công sở và các công lại cũng phải dán thêm tem cho đủ số thuế như đã định ở trên vào các sổ sách, phải chịu thuế tem rồi mới được dùng.
Ai làm trái nghị định này sẽ phải phạt theo như thể lệ định trong bộ luật thuế tem.
Điều thứ 4 - Ông Giám đốc sở Trước bạ và Điền thổ có nhiệm vụ thi hành nghị định này.
| BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH |
Nghị định 262-TC năm 1946 về giá giấy tín chỉ và những thuế tem do Bộ trưởng Bộ Tài Chính ban hành.
- Số hiệu: 262-TC
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 12/03/1946
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Lê Văn Hiến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 11
- Ngày hiệu lực: 01/04/1946
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
