Nghị định 246-TTg được ban hành năm 1958 bởi Thủ tướng Chính phủ, quy định chi tiết về thể lệ sử dụng, mua bán, sửa chữa, mang ra vào nước và quản lý súng săn nhằm bảo đảm trật tự trị an và an toàn xã hội.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Thể lệ này áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam và ngoại kiều có nhu cầu sở hữu, sử dụng, mua bán, sửa chữa hoặc vận chuyển súng săn trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, văn bản có những quy định ưu tiên riêng áp dụng cho đồng bào ở các vùng miền núi do Ủy ban hành chính khu, tỉnh xác định.
Quy định về quản lý và sử dụng súng săn
- Thời hạn và kiểm soát giấy phép: Giấy phép sử dụng súng săn có giá trị sử dụng tối đa là 03 năm, hết thời hạn phải xin đổi mới. Hàng năm, từ ngày 01 đến ngày 31 tháng 12 dương lịch, người sử dụng súng phải trình ký kiểm soát giấy phép tại cơ quan Công an nơi cư trú (riêng đồng bào miền núi thực hiện tại Ủy ban hành chính xã). Giấy phép mới cấp dưới 06 tháng được miễn trình ký kiểm soát năm đầu tiên.
- Trách nhiệm khi thay đổi thông tin, mất mát: Khi thay đổi nơi cư trú giữa các tỉnh, thành phố, chủ súng phải báo cáo cho cơ quan công an hoặc Ủy ban hành chính xã (đối với miền núi) tại cả nơi đi và nơi đến. Trường hợp mất súng hoặc mất giấy phép phải trình báo ngay cho cơ quan chức năng. Khi súng bị hỏng không thể sử dụng, chủ súng phải trả lại giấy phép cho cơ quan quản lý.
- Quy định về việc cho mượn súng: Nghiêm cấm việc cho thuê, cho mượn súng săn và giấy phép sử dụng. Tuy nhiên, đồng bào miền núi được phép cho người thân trong gia đình sử dụng súng của mình nhưng người đứng tên giấy phép phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
- Yêu cầu kiểm tra: Người mang súng săn phải xuất trình ngay súng, đạn và giấy phép khi có yêu cầu kiểm soát từ nhà chức trách.
Các khu vực và hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng súng săn
- Cấm săn bắn trong phạm vi thành phố, thị xã, thị trấn (ngoại trừ vùng ngoại ô) và các khu vực cấm do Ủy ban hành chính cấp tỉnh, khu hoặc thành phố quy định.
- Cấm nổ súng khi đang di chuyển trên các phương tiện giao thông như xe, tàu, thuyền đang chở khách.
- Không được để đạn sẵn trong nòng súng khi ở trên các phương tiện vận chuyển, khi đi qua thành phố, thị xã, thị trấn, nơi đông người hoặc các địa điểm hội họp công cộng.
Thủ tục mua, bán, trao đổi và sửa chữa súng săn
- Điều kiện mua súng: Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên muốn mua súng săn phải được cơ quan Công an cấp phép dựa trên đơn xin nêu rõ mục đích và bản khai lý lịch căn cước. Đồng bào miền núi được miễn nộp đơn và lý lịch khi mua súng.
- Thủ tục giao dịch: Mọi giao dịch mua, bán, đổi súng săn phải có chứng từ được đồn công an hoặc Ủy ban hành chính xã chứng thực. Trong thời hạn 05 ngày (đối với thành thị) hoặc 20 ngày (đối với nông thôn) kể từ ngày giao dịch, người sở hữu mới phải làm thủ tục xin cấp hoặc đổi giấy phép sử dụng súng.
- Hạn chế kinh doanh và sửa chữa: Nghiêm cấm việc bán súng, đạn hoặc sửa chữa súng săn cho những người không có giấy phép mua hoặc giấy phép sử dụng hợp lệ.
- Cấm chế tạo trái phép: Nghiêm cấm hành vi cải chế các loại súng quân dụng (súng trận) thành súng săn. Tuyệt đối cấm sử dụng vật liệu nổ quân dụng như bom, mìn, lựu đạn, đạn quân dụng để chế tạo đạn súng săn.
Quy định về mang súng ra, vào lãnh thổ Việt Nam
- Người Việt Nam và người nước ngoài muốn mang súng săn từ nước ngoài vào Việt Nam phải được sự cho phép bằng văn bản của Bộ Công an.
- Khi mang súng săn ra khỏi Việt Nam, chủ sở hữu phải nộp lại giấy phép sử dụng súng cho cơ quan Công an nơi cư trú, xin phép mang súng ra cửa khẩu và xuất trình súng, đạn, giấy phép cho lực lượng kiểm soát tại cửa khẩu.
- Các hoạt động xuất nhập khẩu thương mại, buôn bán, chế tạo súng săn và đạn súng săn quy mô lớn sẽ được điều chỉnh bằng các văn bản quy định riêng biệt.
Chế độ lệ phí đăng ký và kiểm soát súng săn
- Lệ phí đăng ký ban đầu: Mức phí là 5.000 đồng đối với súng săn cỡ 9, 12, 16 hoặc tương đương; mức phí là 1.000 đồng đối với súng hoả mai, súng kíp hoặc súng săn cỡ 20, 24.
- Lệ phí trình ký kiểm soát hoặc đổi giấy phép: Mức phí là 1.000 đồng đối với súng cỡ 9, 12, 16; mức phí là 500 đồng đối với súng hoả mai, súng kíp hoặc súng cỡ 20, 24.
- Chính sách ưu đãi: Đồng bào sinh sống tại các vùng miền núi được miễn hoàn toàn các khoản lệ phí đăng ký, kiểm soát và đổi giấy phép nêu trên.
Chế tài xử lý vi phạm và thẩm quyền xử phạt
- Các hình thức xử lý vi phạm: Cá nhân vi phạm các quy định của Thể lệ hoặc sử dụng súng săn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, tài sản nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân sẽ bị xử lý tùy theo mức độ vi phạm, bao gồm: phê bình cảnh cáo, phạt vi cảnh, tước giấy phép sử dụng (có thời hạn hoặc vĩnh viễn), tịch thu súng, đạn, hoặc truy tố trước pháp luật.
- Thẩm quyền xử lý: Trưởng, Phó Trưởng ty Công an trở lên có thẩm quyền quyết định rút giấy phép sử dụng súng săn. Ủy ban hành chính cấp tỉnh, khu phố có thẩm quyền quyết định tịch thu súng săn hoặc đạn súng săn. Việc phê bình, cảnh cáo, phạt vi cảnh hoặc truy tố trước tòa án được thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm đó.
Hiệu lực thi hành: Nghị định 246-TTg năm 1958 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các cơ quan gồm Bộ trưởng Bộ Công an và Ủy ban hành chính các cấp (khu, tỉnh, thành phố) chịu trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn và thi hành nghiêm túc các quy định tại Thể lệ ban hành kèm theo Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 246-TTg | Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 1958 |
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 246-TTG, NGÀY 17 THÁNG 5 NĂM 1958 BAN HÀNH THỂ LỆ DÙNG SÚNG SĂN
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và giữ gìn trật trự trị an chung,
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Công an;
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1: Nay ban hành thể lệ dùng súng săn kèm theo Nghị định này.
| Phạm Văn Đồng (Đã ký) |
Điều 1: Súng săn nói trong thể lệ này gồm các loại súng dùng để săn bắn thú rừng, chim, như:
- Súng săn một và hai nòng cỡ 9, 12, 16, 20, 24... hoặc không có cỡ nhất định, tự động hoặc không tự động;
- Súng hoả mai, súng kíp.
Các loại súng hơi, súng bắn không lò xo không thuộc phạm vi quy định của Điều lệ này.
Đạn súng săn gồm có:
- Đạn súng săn các cỡ 9, 12, 16, 20, 24... hoặc không có cỡ nhất định ;
- Thuốc súng, hạt nổ đạn súng săn;
- Vỏ đạn súng săn đã lắp hạt nổ hoặc đã nhồi thuốc.
Ngoại kiều cũng có thể được xét và cấp giấy phép dùng súng săn tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Điều 3: Những người sau đây không được dùng súng săn:
- Người đương bị truy tố;
- Người đương bị quản chế;
- Người mất quyền công dân;
- Người có can án;
- Người có bệnh tật xét ra dùng súng có thể nguy hiểm như mắt mù, tai điếc, mất trí, loạn óc hoặc say rượu, v.v...
Muốn xin phép dùng súng săn, phải nộp các giấy tờ sau đây:
- Một đơn xin phép dùng súng săn;
- Một bản lý lịch do Uỷ ban hành chính xã hoặc Ban Cán sự hành chính khu phố chứng thực;
- Giấy phép mua súng săn, hoặc giấy phép dùng súng săn của chủ cũ và các giấy tờ liên quan nếu có;
- Hai tấm ảnh 4 x 6 mới, nghiêng mặt 2/3, đầu không đội mũ hoặc nón.
Ở những vùng miền núi do Uỷ ban hành chính tỉnh hoặc khu quy định, đồng bào không phải thi hành các thủ tục nói trên mà chỉ cần mang súng săn đến khai tại Uỷ ban hành chính xã nơi cư trú để xét và cấp giấy phép dùng súng săn.
Hàng năm từ ngày mồng 1 đến 31 tháng 12 dương lịch, người có giấy phép dùng súng săn phải trình ký kiểm soát vào giấy phép dùng súng săn tại Ty, Sở hoặc Khu công an nơi cư trú; đồng bào ở những vùng miền núi trình ký kiểm soát tại Uỷ ban hành chính xã cư trú. Giấy phép không trình ký kiểm soát hàng năm sẽ không còn giá trị.
Giấy phép mới cấp chưa quá sáu tháng được miễn trình ký kiểm soát năm đầu.
Khi mất giấy phép hoặc mất súng săn, phải trình ngay cho cơ quan Công an hoặc Uỷ ban hành chính địa phương và báo cho cơ quan công an đã cấp giấy phép biết.
Khi súng săn bị hư hỏng không dùng được nữa, phải trả lại giấy phép cho cơ quan lý súng nơi cư trú.
Không được cho người khác thuê hoặc mượn súng săn và giấy phép dùng súng săn của mình. Đồng bào ở những vùng miền núi có thể cho người trong gia đình sử dụng súng săn của mình, nhưng người có súng phải chịu trách nhiệm.
Bất kỳ lúc nào, hễ nhà chức trách yêu cầu, người mang súng săn phải xuất trình ngay giấy phép và súng đạn để kiểm soát.
Không được bắn súng khi đi trên xe, tàu thuyền đương chở hành khách.
Không được để đạn trong nòng súng khi ở trên xe, tàu, thuyền, khi đi trong thành phố, thị xã, thị trấn (trừ vùng ngoại ô), khi đến chỗ đông người hoặc vào nơi hội họp công cộng.
MANG SÚNG SĂN RA, VÀO NƯỚC, XUẤT NHẬP KHẨU, BUÔN BÁN, CHẾ TẠO SÚNG SĂN VÀ ĐẠN SÚNG SĂN
Tại cửa khẩu phải xuất trình giấy phép, súng săn và thuốc đạn súng săn cho nhà chức trách kiểm soát. Giấy phép mang súng săn và thuốc đạn súng săn ra khỏi Việt Nam phải trả lại cho cơ quan công an ở cửa khẩu.
Điều 13: Việc xuất nhập khẩu, buôn bán, chế tạo súng săn và đạn súng săn sẽ có quy định riêng.
Điều 14: Mỗi khi đăng ký súng săn, đương sự phải nộp một khoản lệ phí như sau:
- 5.000 đồng cho một súng săn cỡ 9, 12, 16 hoặc loại súng có giá trị tương đương.
- 1.000 đồng cho một súng hoả mai, súng kíp hoặc súng săn cỡ 20 và 24 v.v...
Mỗi lần trình ký kiểm soát vào giấy phép dùng súng săn, hoặc mỗi khi đổi giấy phép mới, đương sự phải nộp một khoản lệ phí như sau:
- 1.000 đồng cho một súng săn cỡ 9, 12, 16 hoặc loại súng có giá trị tương đương;
- 500 đồng cho một súng hoả mai, súng kíp hoặc súng săn cỡ 20, 24 v. v...
Đồng bào miền núi được miễn nộp các khoản lệ phí nói trên.
- Phê bình cảnh cáo;
- Phạt vi cảnh;
- Rút giấy phép dùng súng săn có thời hạn, hoặc rút hẳn;
- Tịch thu súng săn và thuốc đạn súng săn;
- Truy tố trước toà án.
Điều 16: Quyền xử lý các trường hợp vi phạm Thể lệ định như sau:
- Trưởng, phó ty Công an trở lên có quyền rút giấy phép dùng súng săn ;
- Uỷ ban hành chính tỉnh, khu phố có quyền tịch thu súng săn, hoặc đạn súng săn;
- Quyền phê bình, cảnh cáo, phạt vi cảnh hoặc yêu cầu truy tố trước toà án thì theo luật lệ hiện hành.
Nghị định 246-TTg năm 1958 về thể lệ dùng súng săn do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 246-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 17/05/1958
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 19
- Ngày hiệu lực: 01/06/1958
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
