Nghị định 201-CP được Hội đồng Chính phủ ban hành năm 1981 nhằm quy định thống nhất việc quản lý định mức kinh tế - kỹ thuật trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, làm cơ sở cho công tác kế hoạch hóa, quản lý tài chính, kỹ thuật và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Phạm vi và đối tượng áp dụng:
- Nghị định này áp dụng đối với mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có sử dụng vật tư, lao động thuộc các ngành, các cấp và các đơn vị cơ sở quốc doanh trong cả nước, bao gồm cả các đơn vị quân đội làm nhiệm vụ kinh tế.
- Đối với các sản phẩm chuyên dùng của quốc phòng, công an và công việc riêng trong lực lượng vũ trang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ ban hành quy định riêng.
Khái niệm và yêu cầu đối với định mức kinh tế - kỹ thuật
- Định mức kinh tế - kỹ thuật (gọi tắt là định mức) là lượng lao động sống và lao động quá khứ (biểu hiện bằng thời gian lao động, bằng giá trị hoặc hiện vật) được phép sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc thực hiện một khối lượng công việc theo tiêu chuẩn chất lượng quy định và quy trình công nghệ hợp lý.
- Định mức phải bảo đảm tính chính xác để làm căn cứ xây dựng kế hoạch, quản lý tài chính và kỹ thuật; phù hợp với điều kiện tổ chức - kỹ thuật của từng thời kỳ kế hoạch; bảo đảm sự thống nhất giữa các loại định mức và phương pháp xây dựng; bảo đảm sự quản lý tập trung của Nhà nước kết hợp với quyền làm chủ tập thể của người lao động.
Phân loại hệ thống định mức
- Định mức Nhà nước: Áp dụng chung cho các ngành, các cấp, quy định cho những sản phẩm hoặc công việc chủ yếu do Nhà nước thống nhất quản lý, có liên quan đến các cân đối chung của nền kinh tế quốc dân.
- Định mức ngành: Áp dụng trong từng ngành đối với những sản phẩm, công việc chưa có định mức Nhà nước, hoặc khi cần cụ thể hóa định mức Nhà nước, hoặc cho các sản phẩm được phân cấp quản lý ngành.
- Định mức cấp tỉnh (tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương): Áp dụng trong phạm vi địa phương đối với sản phẩm chưa có định mức của cấp trên hoặc được phân cấp quản lý.
- Định mức cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh): Áp dụng trong phạm vi huyện đối với sản phẩm chưa có định mức của cấp trên hoặc được phân cấp quản lý.
- Định mức đơn vị cơ sở: Áp dụng nội bộ trong từng đơn vị cơ sở đối với các sản phẩm, công việc chưa có định mức của cấp trên hoặc cần cụ thể hóa định mức của cấp trên.
Giá trị pháp lý và ứng dụng của định mức
- Định mức đã được ban hành theo đúng thẩm quyền là căn cứ pháp lý bắt buộc để: Xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch; phân phối và cung ứng vật tư, lao động, tiền vốn; xác định giá thành và giá chỉ đạo của Nhà nước; đánh giá việc thực hiện kế hoạch, chất lượng sản phẩm; xét khen thưởng hoặc xử phạt đối với tập thể, cá nhân.
- Trường hợp chưa có định mức chính thức hoặc cần sửa đổi, bổ sung, Hội đồng xét duyệt định mức cấp trên quyết định áp dụng định mức tạm thời để làm căn cứ tính kế hoạch, tính giá thành và đánh giá công việc.
Thời hạn xây dựng và hoàn thành định mức
- Đối với kế hoạch hàng năm: Định mức đơn vị cơ sở và cấp huyện phải hoàn thành trước 8 tháng; định mức ngành và cấp tỉnh phải hoàn thành trước 6 tháng; định mức Nhà nước phải hoàn thành trước 4 tháng trước khi bước vào năm kế hoạch.
- Đối với kế hoạch 5 năm: Định mức đơn vị cơ sở và cấp huyện phải hoàn thành trước 2 năm; định mức ngành và cấp tỉnh phải hoàn thành trước 18 tháng; định mức Nhà nước phải hoàn thành trước 12 tháng trước khi xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo.
Căn cứ và phương pháp xây dựng định mức
- Căn cứ xây dựng: Dựa trên số liệu thiết kế, quy trình công nghệ, công thức chế tạo, quy trình thao tác; các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm do Nhà nước quy định; chỉ tiêu tiết kiệm tiêu dùng vật tư, tiền vốn, lao động trong kế hoạch; và các số liệu thống kê hàng năm cùng tài liệu liên quan khác.
- Phương pháp xây dựng: Tùy theo đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cụ thể để áp dụng phương pháp tổng hợp (thống kê, kinh nghiệm, ước lượng so sánh) hoặc phương pháp phân tích (khảo sát, thí nghiệm, thực nghiệm, tính toán kỹ thuật).
Trách nhiệm xây dựng, thẩm quyền xét duyệt và ban hành định mức
- Trách nhiệm xây dựng: Thủ trưởng các ngành, đơn vị cơ sở và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng định mức thuộc phạm vi quản lý. Đối với định mức Nhà nước, ngành nào quản lý sản phẩm đó sẽ chịu trách nhiệm xây dựng để trình Chính phủ.
- Thẩm quyền ban hành: Thủ tướng Chính phủ ban hành định mức Nhà nước (hoặc ủy quyền cho Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước ban hành); Bộ trưởng, Tổng cục trưởng ban hành định mức ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành định mức cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành định mức cấp huyện; Thủ trưởng đơn vị cơ sở ban hành định mức cấp cơ sở.
- Ủy ban Kế hoạch Nhà nước phối hợp với Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước trình Chính phủ quyết định danh mục phân cấp xây dựng, xét duyệt và ban hành định mức đối với các sản phẩm, công việc.
Hội đồng xét duyệt định mức và quy trình giải quyết tranh chấp
- Các cơ quan có thẩm quyền được thành lập Hội đồng xét duyệt định mức để tư vấn về các mặt kinh tế, kỹ thuật, nghiệp vụ và pháp chế trước khi ban hành.
- Hội đồng xét duyệt định mức Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ thành lập, gồm một Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước làm Chủ tịch, đại diện các Bộ Tài chính, Lao động, Vật tư, Ủy ban Vật giá Nhà nước, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước làm ủy viên.
- Đơn vị cấp dưới phải gửi dự án định mức cho Hội đồng cấp trên trực tiếp và chịu trách nhiệm về độ tin cậy của số liệu. Trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận dự án, Hội đồng cấp trên phải họp xét duyệt. Nếu quá hạn, cấp dưới được quyền tạm thời thực hiện định mức theo dự án đã trình.
- Trường hợp không thống nhất ý kiến giữa Hội đồng và đơn vị bảo vệ định mức, Chủ tịch Hội đồng ghi nhận các ý kiến khác nhau vào biên bản, đề ra biện pháp giải quyết trong thời hạn nhất định. Nếu vẫn không thống nhất được, Chủ tịch Hội đồng báo cáo cấp trên quyết định định mức tạm thời để bảo đảm tiến độ lập kế hoạch.
- Tất cả định mức do các Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành phố ban hành đều phải sao gửi về Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước.
Tổ chức bộ máy chuyên trách công tác định mức
- Tại các cơ quan quản lý ngành, địa phương và đơn vị cơ sở phải bố trí một bộ phận chuyên trách nằm trong cơ quan kế hoạch để theo dõi, kiểm tra công tác định mức.
- Nhiệm vụ: Tổ chức xây dựng định mức; lập thuyết minh dự án trình duyệt; phổ biến, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện định mức; nghiên cứu xây dựng các chế độ, thể lệ; hướng dẫn nghiệp vụ và làm báo cáo sơ kết, tổng kết, kiến nghị sửa đổi định mức.
- Quyền hạn: Kiểm tra việc áp dụng định mức đã ban hành trong phạm vi quản lý; yêu cầu các đơn vị liên quan cung cấp tài liệu, số liệu phục vụ công tác định mức.
Hiệu lực thi hành:
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Bãi bỏ các văn bản trước đây về công tác định mức kinh tế - kỹ thuật trái với Nghị định này. Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành nghị định. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, Thủ trưởng cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và Thủ trưởng các đơn vị cơ sở quốc doanh chịu trách nhiệm thi hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 201-CP | Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 1981 |
CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 201-CP NGÀY 26 THÁNG 5 NĂM 1981 VỀ QUẢN LÝ ĐỊNH MỨC KINH TẾ - KỸ THUẬT
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ vào Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ ngày 14-7-1960;
Căn cứ vào Điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội đồng Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 172-CP ngày 3-11-1973 và Nghị định 35-CP ngày 9-2-1981 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của bộ trưởng và chức năng của Bộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước;
Để làm căn cứ cho các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch và quản lý, kinh tế tài chính, bảo đảm huy động và sử dụng tiết kiệm lực lượng lao động, tiền vốn, vật tư và các tài nguyên thiên nhiên khác đạt hiệu quả kinh tế ;
Theo đề nghị của đồng chí chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 3.- Định mức kinh tế kỹ thuật phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
- Bảo đảm là căn cứ tương đối chính xác để xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch, quản lý kinh tế, tài chính và quản lý kỹ thuật;
- Phù hợp với các điều kiện tổ chức - kỹ thuật của tững thời kỳ kế hoạch;
- Bảo đảm sự thống nhất giữa các loại định mức và phương pháp xây dựng định mức;
- Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, bảo đảm tính quần chúng, quyền làm chủ tập thể của người lao động và quyền tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở.
Điều 4.- Định mức được chia thành các loại sau đây:
a) Định mức Nhà nước áp dụng chung cho các ngành, các cấp, được quy định cho những sản phẩm (công việc) chủ yếu, do Nhà nước thống nhất quản lý, xó liên quan đến các cân đối chung của nền kinh tế quốc dân.
b) Định mức áp dụng trong từng ngành, được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa có định mức Nhà nước, khi cần cụ thể hóa định mức Nhà nước,hoặc cho những sản phẩm (công việc) của ngành được phân cấp quản lý.
c) Định mức tỉnh,thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) áp dụng trong phạm vi tỉnh, được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa có định mức Nhà nước, định mức ngành; khi cần cụ thể hóa định mức Nhà nước, định mức ngành; hoặc cho những sản phẩm (công việc) của tỉnh, được phân cấp quản lý.
d) Định mức huyện, quận và thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là huyện) áp dụng trong phạm vi huyện được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa xó định mức Nhà nước, định mức ngành, định mức tỉnh, thành phố; khi cần cụ thể hoá định mức của cấp trên, hoặc cho những sản phẩm (công việc) của huyện được phân cấp quản lý.
e) Định mức đơn vị cơ sở áp dụng trong từng đơn vị xơ sở được quy định cho những sản phẩm (công việc ) khi chưa có định nức Nhà nước, định mức ngành (đối với xí nghiệp quốc doanh trung ương), định mức địa phương (đối với xí nghiệp quốc doanh địa phương); khi cần cụ thể hoá định mức của cấp trên; hoặc cho những sản phẩm (công việc) của đơn vị cơ sở sản xuất được phân cấp quản lý.
- Xây dựng các chỉ tiêu kế họach;
- Phân phối và cung ứng vật tư, lao động, tiền vốn...;
- Xác định giá thành và giá chỉ đạo của Nhà nước;
- Đánh giá việc thực hiện kế hoạch; xem xét chất lượng sản phẩm (công việc ); xét thưởng hoặc phạt đối với các đơn vị hoặc cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch.
Trường hợp chưa có định mức chính thức do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc đã có, nhưng cần được sửa đôiem bôe sung thì trong khi chờ có định mức chính thức, hội đồng xét duyệt định mức cấp trên quyết định việc áp dụng định mức tạm thời để làm căn cứ tinhs kế hoạch, tính giá tnhành và đánh giá công việc quản lý của cấp dưới.
a) Đối với định mức để tính kế hoạch hàng năm.
-Định mức đơn vị xơ sở và đinh mức huyện phải hoàn thành 8 tháng trước khi bước vào năm kế hoạch.
- Định mức ngành và định mức tỉnh, thành phố phải hoàn thành6 tháng trước khi bước vào năm kế hoạch .
- Định mức Nhà nước phải hoàn thành 4 tháng trước khi bước vào năm kế hoạch.
b) Đối với định mức để tính kế hoạch 5 năm.
- Định mức đơn vị cơ sở và định mức huyện phải hoàn thành 2 năm trước khi xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo.
- Định mức ngành và định mức tỉnh, thành phố phải hoàn thành 18 tháng trước khi xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo.
- Định mức Nhà nước phải hoàn thành 12 tháng trước khi xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo.
- Các số liệu của tài liệu thiết kế, quy trình công nghệ, công thức chế tạo, quy trình công nghệ, công thức chế tạo, quy trình thao tác và những điều kiện kỹ thuật trong sản xuất;
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm (công việc) do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quy định;
- Các chỉ tiêu về tiết kiệm tiêu dùng vật tư, tiền vốn, lao động để sản xuất sản phẩm (công việc) được ghi trong các kế hoạch hàng năm và 5 năm;
- Các số liệu thống kê hàng năm và các tài liệu có liên quan khác.
- Phương pháp tổng hợp (trong đó có thống kê, kinh nghiệm; ước lượng so sánh;
- Phương pháp phân tích(trong đó có phân tích khảo sát; thí nghiệm, thực nghiệm; phân tích tính toán).
Điều 9.- Trách nhiệm xây dựng định mức:
a) Thủ trưởng các ngành, các đơn vị cơ sở, chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức (hoặc chỉ đạo việc tổ chức) xây dựng định mức về những sản phẩm (công việc) được phân cấp quản lý (bao gồm cả những định mức trình cấp trên ban hành).
b) Về xây dựng định mức Nhà nước: Định mức đối với những sản phẩm (công việc) thuộc phạm vi quản lý của ngành nào do ngành đó xây dựng trình Chính phủ ban hành.
XÉT DUYỆT VÀ BAN HÀNH ĐỊNH MỨC
Điều 10.- Thẩm quyền xét duyệt và ban hành định mức được quy định như sau:
- Định mức Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo đề nghị của thủ trưởng các ngành chủ quản sản phẩm (công việc) sau khi xem xét ý kiến của Hội đồng xét duyệt định mức Nhà nước. Thủ tướng Chính phủ trực tiếp hoặc uỷ quyền cho chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước ban hành các định mức này.
- Định mức ngành do Bộ trưởng, Tổng cục Trưởng xét duyệt và ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng xét duyệt định mức của Bộ, Tổng cục.
- Định mức tỉnh so Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xét duyệt và ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng xét duyệt định mức tỉnh.
- Định mức huyện do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện xét duỵet và ban hành sau khi tham khảo ý kiến của hội đồng xét duyệt định mưcs huyện.
- Định mức đơn vị, cơ sở do thủ trưởng đơn vị cơ sở ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng xét duyệt định mức đơn vị.
Chủ tịch Hội đồng là Phó thủ trưởng cơ quan quản lý ngành, đơn vị cơ sở hoặc phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân địa phương; các thành viên của hội đồng gồm có đại diện các cơ quan kế hoạch, thống kê, khoa học- kỹ thuật, lao động, vật tư, tài chính, vật giá... Thường trực của hội đồng này là đại diện cơ quan kế hoạch của ngành, địa phương hoặc đơn vị cơ sở.
Hội đồng xét duyệt định mức Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập.
Hội đồng xét duyệt định mức Nhà nước gồm có:
- Một phó chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước là Chủ tịch,
- Đại diện các Bộ Tài chính, Lao động, Vật tư, Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Uỷ banKhoa học và kỹ thuật Nhà nước làm uỷ viên; khi xét duyệt định mức thuộc quyền quản lý của Bộ nào thì một thứ trưởng của Bộ đó tham gia hội đồng.
Trường hợp xây dựng định mức chưa đạt yêu cầu hoặc có những ý kiến chưa nhất trí giữa hội đồng và đơn vị bảo vệ định mức, phải ghi rõ những ý kiến khác nhau vào biên bản; chủ tịch hội đồng đề ra những biện pháp tiếp tục giải quyết những vấn đề chưa nhất trí trong thơì hạn nhất định; nếu đến thời hạn mà vẫn không nhất trí được thì chủ tịch hội đồng báo cáo lên cấp trên để xin ý kiến và quyết định định mức tạm thời chi đơn vị cấp dưới áp dụng để bảo đảm tiến độ lập kế hoạch.
Chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận được dự án, hội đồng xét duyệt định mức cấp trên phải họp hội đồng xét duyệt định mức để cấp dưới bảo vệ dự án định mức, nếu chậm trễ cấp dưới được quyền tạm thời thực hiện định mức theo bản dự án đã gửi cho cấp trên.
TỔ CHỨC CHUYÊN TRÁCH VỀ CÔNG TÁC ĐỊNH MỨC
Điều 17.- Nhiệm vụ và quyền hạn của bộ phận chuyên trách công tác định mức:
a) Nhiệm vụ:
- Tổ chức xây dựng định mức thuộc phạm vi trách nhiệm của ngành mình, cấp mình, đồng thời tham gia xây dựng định mức của cấp trên và hướng dẫn cấp dưới xây dựng và quản lý định mức;
- Lập bản thuyết minh dự án định mức để trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, ban hành;
- Phổ biến các định mức đã ban hành; theo dõi, kiểm tra và kiến nghị các biện pháp để thực hiện tốt các định mức ấy;
- Nghiên cứu xây dựng hoặc tham gia xây dựng các chế độ, thể lệ và phương pháp định mức;
- Hướng dẫn nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác định mức;
- Làm báo cáo sơ kết, tổng kết công tác định mức, kiến nghị với cấp trên sửa đổi những định mức cũ và xây dựng những định mức mới.
b) Quyền hạn:
- Kiểm tra việc áp dụng các định mức đã ban hành trong ngành, địa phương hoặc đơn vị cơ sở;
- Yêu cầu các đơn vị cung cấp những tài liệu, những tình hình có liên quan đến việc xây dựng, xét duyệt và ban hành định mức.
Đối với các sản phẩm chuyên dùng của quốc phòng, công an và công việc riêng trong quân đôi, công an, bộ trưởng Bộ Quốc phòng và bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy định riêng.
Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành nghị định này.
| Tố Hữu (Đã ký) |
Nghị định 201-CP năm 1981 về việc quản lý định mức kinh tế - kỹ thuật do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 201-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 26/05/1981
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 10
- Ngày hiệu lực: 26/05/1981
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
