Nghị định 184-CP năm 1972 do Hội đồng Chính phủ ban hành quy định chi tiết về thể lệ sát sinh trâu, bò nhằm bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp, bảo tồn đàn gia súc sinh sản và thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển bền vững.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thể lệ này áp dụng bắt buộc đối với tất cả các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức xã hội, hợp tác xã, nông trường, xí nghiệp và mọi cá nhân trên phạm vi cả nước có hoạt động chăn nuôi, quản lý, sử dụng hoặc giết mổ trâu, bò.
Mục đích của thể lệ sát sinh trâu, bò
- Bảo vệ nghiêm ngặt đàn trâu, bò, bê, nghé cái và các con đực giống nhằm tạo cơ sở vững chắc để phát triển quy mô chăn nuôi, tăng sản lượng thịt, sữa cho xã hội.
- Bảo vệ tối đa lực lượng trâu, bò cày kéo để bảo đảm sức kéo phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, trồng trọt và vận chuyển ở nông thôn.
- Khuyến khích các địa phương và hộ gia đình phát triển chăn nuôi trâu, bò sinh sản, trâu, bò hướng thịt và hướng sữa.
- Thực hiện việc chọn lọc, cải tạo đàn gia súc, loại bỏ dần những con giống xấu, còi cọc để xây dựng đàn trâu, bò có chất lượng cao.
- Chủ động phòng ngừa các dịch bệnh nguy hiểm lây lan trong đàn gia súc và bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Quy định về các loại trâu, bò nghiêm cấm mổ thịt
Nhà nước nghiêm cấm triệt để việc giết mổ đối với các loại gia súc sau: trâu cái, bò cái, bê cái, nghé cái, trâu đực giống, nghé đực giống, bò đực giống, trâu bò đang làm nhiệm vụ cày kéo và bê đực không thuộc diện được phép giết mổ theo quy định đặc biệt.
Các trường hợp trâu, bò được phép mổ thịt
- Bò đực đã trên 1 năm tuổi nhưng qua kiểm tra không được xếp vào loại làm con giống và không sử dụng vào mục đích cày kéo.
- Trâu, bò, bê, nghé bị thương tật, gầy yếu, còi cọc do tai nạn hoặc bệnh tật, mặc dù đã được tận tình chăm sóc, cứu chữa nhưng xác định không thể sống được, hoặc nếu sống cũng không còn khả năng cày kéo, sinh sản hay khai thác sữa.
- Trâu cày kéo đã trên 12 tuổi và bò cày kéo đã trên 10 tuổi, hoàn toàn mất khả năng lao động và cày kéo.
- Trâu cái đã qua 3 năm liên tục không đẻ, bò cái qua 2 năm liên tục không đẻ, qua đánh giá chuyên môn xác định không còn khả năng sinh sản và cũng không thể tận dụng làm lực lượng cày kéo.
- Trâu đực giống hoặc bò đực giống sau khi đã đưa vào sử dụng phối giống ít nhất 1 năm, qua kiểm tra không còn khả năng truyền giống và không thể chuyển sang làm nhiệm vụ cày kéo.
Quy định đặc thù đối với khu vực miền núi
Tại một số vùng miền núi được Ủy ban hành chính cấp tỉnh công nhận là có tập quán ăn thịt trâu lâu đời, người dân được phép mổ thịt trâu đực, nghé đực không dùng làm giống, không dùng cày kéo và các con vật này phải nằm ngoài chỉ tiêu, kế hoạch cung cấp sức kéo hoặc thực phẩm cho vùng đồng bằng.
Giết mổ phục vụ nghiên cứu khoa học và y tế
Các cơ quan y tế, cơ quan thú y thuộc cấp trung ương và địa phương được phép xin mổ thịt một số loại trâu, bò, bê, nghé nằm ngoài các tiêu chuẩn thông thường để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, thí nghiệm hoặc chế biến thuốc. Tuy nhiên, các cơ quan này không được phép giết mổ con cái, trừ trường hợp đặc biệt khi đề tài, công trình thí nghiệm bắt buộc phải sử dụng con cái và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Thẩm quyền cho phép giết mổ trâu, bò
Việc giết mổ trâu, bò bắt buộc phải có sự xác nhận chuyên môn của cán bộ chăn nuôi, thú y và phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ủy ban hành chính các cấp theo phân cấp như sau:
- Ủy ban hành chính xã, thị trấn: Có thẩm quyền cho phép mổ thịt đối với bò đực sau 1 năm tuổi không làm giống/cày kéo; trâu, bò, bê, nghé bị thương tật, còi cọc không thể cứu chữa; và trâu đực, nghé đực tại các vùng miền núi có tập quán ăn thịt trâu. Trong thời hạn chậm nhất là 5 ngày sau khi giết mổ, Ủy ban hành chính xã, thị trấn phải báo cáo bằng văn bản lên Ủy ban hành chính huyện để theo dõi và kiểm tra chặt chẽ.
- Ủy ban hành chính huyện hoặc cấp tương đương: Có thẩm quyền cho phép mổ thịt đối với trâu cày kéo trên 12 tuổi, bò cày kéo trên 10 tuổi; trâu cái không đẻ 3 năm liền, bò cái không đẻ 2 năm liền; trâu, bò đực giống mất khả năng truyền giống sau 1 năm sử dụng.
- Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Có thẩm quyền cho phép giết mổ trâu, bò phục vụ cho mục đích nghiên cứu y tế, thú y và chế thuốc của các cơ quan chuyên môn.
Quy trình kỹ thuật và vệ sinh thú y khi giết mổ
- Tất cả trâu, bò được phép mổ thịt của các hợp tác xã, nông trường, cơ quan, xí nghiệp, đơn vị vũ trang hoặc tư nhân đều phải được đưa vào giết mổ tập trung tại các lò sát sinh quy định.
- Trường hợp địa điểm chăn nuôi cách xa lò sát sinh trên 3km, chủ gia súc được phép giết mổ tại chỗ nhưng bắt buộc phải thông báo trước cho cán bộ thú y cấp xã hoặc cấp huyện để tiến hành kiểm soát thịt, phủ tạng và thực hiện hướng dẫn tiêu độc, khử trùng khu vực giết mổ.
- Nghiêm cấm triệt để việc mổ thịt trâu, bò đang bị mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc giết mổ tại những vùng đang có dịch bệnh trâu, bò hoành hành.
- Cấm hành vi thui trâu, bò khi mổ thịt; chủ giết mổ phải giữ nguyên vẹn tấm da để bán lại cho Nhà nước phục vụ công nghiệp thuộc da.
Công tác thống kê và giám sát định kỳ
Hàng năm, song song với việc thực hiện thống kê số lượng chăn nuôi, Ủy ban Nông nghiệp các cấp cùng các cơ sở chăn nuôi có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, phân loại cụ thể từng nhóm trâu, bò (nhóm làm giống, nhóm sinh sản, nhóm cày kéo, nhóm lấy thịt, lấy sữa) nhằm thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng và giết thịt gia súc.
Chế tài xử lý vi phạm
- Mọi hành vi mổ thịt trâu, bò trái phép sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 10 đồng đến 100 đồng đối với cá nhân hoặc đơn vị vi phạm. Trường hợp tái phạm, mức phạt tiền sẽ tăng lên gấp đôi.
- Nghiêm cấm và truy tố trước pháp luật đối với các hành vi cố tình tạo ra thương tích, bệnh tật giả tạo cho trâu, bò thuộc diện cấm giết mổ nhằm hợp thức hóa việc mổ thịt, hoặc các hành vi lạm sát trâu, bò nhiều lần.
- Thẩm quyền xử phạt: Ủy ban hành chính xã, thị trấn có trách nhiệm phát hiện, lập biên bản và đề nghị; Ủy ban hành chính huyện, tỉnh hoặc cấp tương đương ban hành quyết định xử phạt chính thức.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Trong mọi trường hợp giết mổ trái phép, toàn bộ số lượng thịt trâu, bò vi phạm đều bị tịch thu. Khoản tiền thu được từ việc bán số thịt tịch thu này sẽ được nộp vào ngân sách của xã. Riêng tiền phạt vi phạm hành chính sẽ được nộp trực tiếp vào ngân sách Nhà nước.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 184-CP năm 1972 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Mọi quy định trước đây về việc sát sinh trâu, bò, bao gồm cả Nghị định số 97-CP ngày 31-7-1961, đều chính thức bãi bỏ. Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết và tổ chức kiểm tra việc thi hành nghiêm chỉnh nghị định này trên toàn quốc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 184-CP | Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 1972 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Để thực hiện tốt Nghị quyết số 181-CP, ngày 17-9-1970 của Hội đồng Chính phủ về phát triển chăn nuôi trâu, bò;
Theo đề nghị của ông Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp trung ương về việc sửa đổi thể lệ sát sinh trâu, bò;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 09-8-1972.
NGHỊ ĐỊNH:
MỤC ĐÍCH CỦA THỂ LỆ SÁT SINH TRÂU, BÒ
Điều 1. - Thể lệ sát sinh trâu, bò nhằm mục đích:
- Bảo vệ tốt trâu, bò, bê, nghé cái và đực giống làm cơ sở phát triển chăn nuôi, tăng thêm thịt sữa và bảo vệ tốt trâu, bò cày kéo để tăng thêm sức kéo phục vụ cho trồng trọt và vận chuyển.
- Khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu, bò sinh sản, trâu bò cày kéo và trâu, bò lấy thịt, lấy sữa.
- Loại dần trâu, bò xấu, chọn lọc, cải tạo thành đàn trâu, bò tốt.
- Phòng ngừa dịch bệnh cho gia súc và bảo đảm vệ sinh thực phẩm cho nhân dân.
LOẠI TRÂU, BÒ CẤM MỔ THỊT VÀ LOẠI TRÂU, BÒ ĐƯỢC MỔ THỊT
Điều 3. - Loại trâu, bò được mổ thịt:
1. Bò đực sau 1 năm tuổi không được xếp vào loại làm giống, hoặc cày kéo.
2. Trâu, bò, bê, nghé bị thương tật, gầy yếu, còi cọc, sau khi đã tận tình cứu chữa, chăm sóc, nhưng xét không sống được hoặc sống cũng không dùng cày kéo, sinh sản, lấy sữa được.
3. Trâu cày kéo trên 12 tuổi, bò cày kéo trên 10 tuổi, không còn khả năng cày kéo.
4. Trâu cái trên 3 năm liền không đẻ, bò cái trên 2 năm liền không đẻ, xét không có khả năng sinh sản và cày kéo.
5. Trâu, bò đực giống, sau khi đã sử dụng 1 năm, xét không còn khả năng truyền giống và cày kéo.
THỦ TỤC VÀ THẨM QUYỀN CHO PHÉP MỔ THỊT TRÂU, BÒ
1. Ủy ban hành chính xã, thị trấn cho phép mổ thịt các loại trâu, bò quy định ở các điểm 1, 2 trong điều 3 và điều 4, chậm nhất là 5 ngày sau khi giết mổ Ủy ban hành chính xã, thị trấn phải báo cáo cho Ủy ban hành chính huyện biết, Ủy ban hành chính huyện phải kiểm tra chặt chẽ việc cho mổ thịt trâu, bò của xã, thị trấn.
2. Ủy ban hành chính huyện hoặc cấp tương đương cho phép mổ thịt những loại trâu, bò nói ở các điểm 3, 4, 5 trong điều 3.
3. Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho phép mổ thịt loại trâu, bò nói ở điều 5.
Cấm mổ thịt trâu, bò bị bệnh dịch, cấm mổ thịt trâu bò ở nơi đang có dịch trâu, bò.
Cấm không được thui trâu, bò khi mổ thịt, phải giữ lại da để bán cho Nhà nước.
Người nào cố tình tạo ra những trường hợp làm cho trâu, bò thuộc loại cấm giết mổ, bị thương tật để mổ thịt hoặc lạm sát trâu, bò nhiều lần sẽ bị truy tố trước pháp luật.
Việc xử phạt do Ủy ban hành chính xã, thị trấn đề nghị, Ủy ban hành chính huyện, tỉnh hoặc cấp tương đương quyết định.
Nghị định số 97-CP ngày 31-7-1961 và các văn bản trước đây quy định việc sát sinh trâu, bò đều bãi bỏ.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
Nghị định 184-CP năm 1972 về thể lệ sát sinh trâu bò do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 184-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 02/10/1972
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Lê Thanh Nghị
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 17
- Ngày hiệu lực: 17/10/1972
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
