Nghị định số 177-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1982 về việc phân ngành kinh tế quốc dân nhằm thiết lập một hệ thống phân loại chuẩn hóa, thống nhất các hoạt động kinh tế trên phạm vi cả nước. Văn bản này đóng vai trò nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác thống kê, lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quản lý vĩ mô của Nhà nước trong giai đoạn bấy giờ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị định
Nghị định áp dụng đối với tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương, bao gồm các Bộ, Ủy ban Nhà nước, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp là hệ thống thống kê quốc gia, các tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi sản xuất vật chất.
Hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân cấp I
Nghị định quy định chi tiết việc phân chia nền kinh tế quốc dân thành 16 ngành kinh tế cấp I cụ thể như sau:
- Ngành công nghiệp: Bao gồm các hoạt động khai thác tài nguyên, chế biến, chế tạo và sản xuất các sản phẩm công nghiệp.
- Ngành xây dựng: Gồm các hoạt động xây dựng cơ bản, lắp đặt máy móc thiết bị và hoàn thiện các công trình xây dựng.
- Ngành nông nghiệp: Tập trung vào trồng trọt, chăn nuôi và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp.
- Ngành lâm nghiệp: Bao gồm trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác lâm sản và các hoạt động lâm nghiệp liên quan.
- Ngành giao thông vận tải: Vận chuyển hàng hóa và hành khách bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không.
- Ngành bưu điện thông tin liên lạc: Cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông và thông tin liên lạc trong cả nước.
- Ngành thương nghiệp, cung ứng vật tư và thu mua: Hoạt động lưu thông hàng hóa, bán buôn, bán lẻ, cung ứng nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất và thu mua nông lâm sản.
- Các ngành sản xuất vật chất khác: Các hoạt động sản xuất vật chất quy mô nhỏ hoặc đặc thù chưa được phân loại vào các ngành trên.
- Ngành sự nghiệp nhà ở, phục vụ công cộng, phục vụ sinh hoạt và du lịch: Quản lý nhà đất, dịch vụ công cộng đô thị, dịch vụ đời sống và kinh doanh du lịch.
- Ngành khoa học: Nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội.
- Ngành giáo dục và đào tạo: Hệ thống trường học, cơ sở đào tạo nghề, đại học và các hoạt động giáo dục khác.
- Ngành văn hoá và nghệ thuật: Hoạt động bảo tồn, sáng tạo nghệ thuật, thông tin đại chúng, triển lãm và thư viện.
- Ngành y tế, bảo hiểm xã hội, thể dục thể thao: Chăm sóc sức khỏe nhân dân, cứu trợ xã hội, bảo hiểm xã hội và các hoạt động thể thao.
- Ngành tài chính, tín dụng và bảo hiểm Nhà nước: Quản lý ngân sách, hoạt động ngân hàng, tín dụng và các dịch vụ bảo hiểm do Nhà nước quản lý.
- Ngành quản lý Nhà nước: Hoạt động của các cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan hành chính các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội.
- Các ngành không sản xuất vật chất khác: Các hoạt động dịch vụ phi vật chất khác chưa được liệt kê cụ thể.
Phân cấp thẩm quyền chi tiết hóa và hướng dẫn thực hiện
- Thẩm quyền của Tổng cục Thống kê: Nghị định giao Tổng cục Thống kê làm đầu mối chủ trì, căn cứ vào danh mục ngành cấp I để ban hành quy định chi tiết về phân ngành kinh tế quốc dân cấp II, cấp III và xây dựng các bảng danh mục liên quan khác nhằm phục vụ công tác thống kê chuyên sâu.
- Trách nhiệm phối hợp: Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê có trách nhiệm chủ động phối hợp chặt chẽ với Thủ trưởng các Bộ, các Ủy ban Nhà nước và các cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng để hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai thi hành thống nhất trên toàn quốc.
Trách nhiệm thi hành của các cơ quan Nhà nước
Các chức danh chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng Bộ trưởng về việc tổ chức thực hiện Nghị định bao gồm: Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Nghị định số 177-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Văn bản này chính thức thay thế cho Nghị định số 37-CP ngày 12 tháng 3 năm 1974 của Hội đồng Chính phủ và bãi bỏ toàn bộ các quy định về phân ngành kinh tế quốc dân đã ban hành trước đây trái với Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 177-HĐBT | Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 1982 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 177-HĐBT NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 1982 VỂ VIỆC PHÂN NGÀNH KINH TẾ QUỐC DÂN
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ yêu cầu của công tác kế hoạch hoá, công tác quản lý kinh tế và thông tin kinh tế;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 1.- Nay phân ngành kinh tế quốc dân (gọi chung là ngành kinh tế cấp I) gồm 16 ngành sau đây:
1. Ngành công nghiệp
2. Ngành xây dựng.
3. Ngành nông nghiệp.
4. Ngành lâm nghiệp
5. Ngành giao thông vân tải.
6. Ngành bưu điện thông tin liên lạc.
7. Ngành thương nghiệp, cung ứng vật tư và thu mua.
8. Các ngành sản xuất vật chất khác.
9. Ngành sự nghiệp nhà ở, phục vụ công cộng, phục vụ sinh hoạt và du lịch.
10. Ngành khoa học.
11. Ngành giáo dục và đào tạo.
12. Ngành văn hoá và nghệ thuật.
13. Ngành y tế, bảo hiểm xã hội, thể dục thể thao.
14. Ngành tài chính, tín dụng và bảo hiểm Nhà nước.
15. Ngành quản lý Nhà nước.
16. Các ngành không sản xuất vật chất khác.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
| Tố Hữu (Đã ký) |
Nghị định 177-HĐBT năm 1982 về việc phân ngành kinh tế quốc dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 177-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 18/10/1982
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 25
- Ngày hiệu lực: 18/10/1982
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
