Nghị định 15-CP được ban hành năm 1996 bởi Chính phủ nhằm thiết lập hệ thống quản lý nhà nước thống nhất đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và nhập khẩu thức ăn chăn nuôi trên phạm vi cả nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài thực hiện các hoạt động liên quan đến sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng vật nuôi chịu sự điều chỉnh bao gồm các loại gia súc, gia cầm, ong, tằm và thủy sản.
Hệ thống thuật ngữ chuyên ngành thức ăn chăn nuôi
Nghị định đưa ra định nghĩa pháp lý rõ ràng cho các khái niệm cốt lõi trong ngành:
- Thức ăn chăn nuôi: Là sản phẩm đã qua chế biến công nghiệp có nguồn gốc thực vật, động vật, vi sinh vật, hóa chất, khoáng chất nhằm cung cấp dinh dưỡng cho vật nuôi để bảo đảm hoạt động sống, sinh trưởng, phát triển và sinh sản.
- Nguyên liệu thức ăn (thức ăn đơn): Các sản phẩm dùng để chế biến thành thức ăn chăn nuôi.
- Thức ăn bổ sung: Chất cho thêm vào khẩu phần để cân đối các chất cần thiết cho cơ thể vật nuôi.
- Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh: Hỗn hợp phối chế theo công thức, bảo đảm đủ dinh dưỡng duy trì đời sống và sức sản xuất của vật nuôi mà không cần thêm thức ăn khác ngoài nước uống.
- Thức ăn giàu đạm: Thức ăn có hàm lượng protein thô trên 35% tính theo trọng lượng vật chất khô.
- Thức ăn đậm đặc: Thức ăn giàu đạm có hàm lượng cao về protein, khoáng, vitamin, axit amin và kháng sinh.
- Premix: Hỗn hợp chất dinh dưỡng đi kèm với chất mang (chất đệm).
- Khẩu phần hàng ngày: Lượng thức ăn cần thiết đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trong một ngày đêm cho một vật nuôi theo từng giai đoạn.
- Thức ăn hàng hóa: Thức ăn được lưu thông và tiêu thụ trên thị trường.
Chính sách và định hướng đầu tư của Nhà nước
Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý và ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển ngành thức ăn chăn nuôi bao gồm:
- Đầu tư vốn ngân sách để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan kiểm tra chất lượng và đào tạo cán bộ chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng, xây dựng tiêu chuẩn thức ăn chăn nuôi.
- Áp dụng chính sách tín dụng phù hợp để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi nhằm đổi mới trang thiết bị, công nghệ và từng bước hiện đại hóa ngành sản xuất này.
Điều kiện đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt sau:
- Có địa điểm, nhà xưởng, trang thiết bị và quy trình công nghệ bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh chăn nuôi thú y và vệ sinh môi trường.
- Có phương tiện hoặc điều kiện tự kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra trước khi xuất xưởng.
- Có nhân viên kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công nghệ sản xuất và kiểm nghiệm chất lượng thức ăn chăn nuôi.
- Phải có giấy phép kinh doanh theo quy định pháp luật và đăng ký tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa.
- Sản phẩm xuất xưởng bắt buộc phải qua kiểm nghiệm, ghi nhận kết quả kiểm nghiệm và lưu mẫu để theo dõi.
- Chỉ được sản xuất các loại thức ăn chăn nuôi đúng tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký và có nhãn hiệu hàng hóa rõ ràng.
- Cấm sản xuất, kinh doanh các mặt hàng độc hại khác tại cùng một địa điểm sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
- Phải treo biển tên doanh nghiệp đã đăng ký tại địa điểm hoạt động.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thức ăn chăn nuôi
Nghị định nghiêm cấm tuyệt đối việc sản xuất và kinh doanh các loại thức ăn chăn nuôi sau:
- Thức ăn kém phẩm chất hoặc đã quá hạn sử dụng.
- Thức ăn chưa đăng ký hoặc đã bị cơ quan nhà nước đình chỉ, thu hồi đăng ký.
- Thức ăn đựng trong bao bì không đúng quy cách, không có nhãn hiệu.
- Thức ăn nằm trong danh mục cấm sản xuất, kinh doanh do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đối với ngành nông nghiệp) hoặc Bộ trưởng Bộ Thủy sản (đối với ngành thủy sản) quy định.
- Thức ăn chứa hoạt tính hoóc-môn, kháng hoóc-môn, độc tố hoặc các chất có hại vượt quá giới hạn cho phép.
Quy định về bao bì, nhãn mác và quảng cáo sản phẩm
Công tác đóng gói, ghi nhãn và thông tin sản phẩm được quy định chi tiết:
- Mọi thức ăn chăn nuôi hàng hóa phải có bao bì và nhãn mác. Đối với trường hợp giao hàng rời không bao bì, phải có giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn chất lượng theo hợp đồng, ghi rõ ngày sản xuất và hạn sử dụng.
- Nguyên liệu quý hiếm dùng làm thức ăn chăn nuôi bắt buộc phải đựng trong bao bì và có nhãn.
- Nhãn hiệu phải được ghi bằng tiếng Việt (có thể kèm chữ nước ngoài). Nội dung chi tiết trên nhãn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Bộ Thủy sản quy định theo thẩm quyền ngành.
- Đối với thức ăn chứa chất phi dinh dưỡng dùng để chẩn đoán, chữa bệnh hoặc ngăn chặn bệnh, nhãn mác phải ghi rõ tên, hàm lượng chất đó, hướng dẫn sử dụng, ngày sản xuất, hạn dùng và các lưu ý đặc biệt khi dùng.
- Chỉ những sản phẩm thức ăn chăn nuôi đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chất lượng mới được phép quảng cáo trên các phương tiện thông tin.
Quy định về xuất khẩu và nhập khẩu thức ăn chăn nuôi
Hoạt động thương mại quốc tế đối với mặt hàng thức ăn chăn nuôi phải tuân thủ các nguyên tắc:
- Tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi phải làm thủ tục xin cấp phép theo quy định pháp luật hiện hành đối với hàng nông sản.
- Nghiêm cấm nhập khẩu thức ăn hoặc nguyên liệu chứa các yếu tố gây hại cho sức khỏe vật nuôi, con người và gây ô nhiễm môi trường.
- Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ trưởng Bộ Thủy sản có trách nhiệm ban hành và công bố danh mục cụ thể các loại thức ăn, nguyên liệu cấm nhập khẩu vào tháng 1 hàng năm.
Phân cấp và trách nhiệm quản lý nhà nước
Công tác quản lý nhà nước được phân định rõ ràng giữa các cấp bộ ngành và địa phương:
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Thủy sản: Thực hiện quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước trong lĩnh vực được phân công; trình Thủ tướng ban hành chính sách khuyến khích; xây dựng tiêu chuẩn Việt Nam; thanh tra, kiểm tra chất lượng; công bố danh mục cấm hàng năm; chủ trì phối hợp quy hoạch, kế hoạch sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chỉ đạo, tổ chức quản lý hoạt động tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ quản lý ngành; ban hành văn bản hướng dẫn cấp tỉnh; xét duyệt, cấp hoặc thu hồi giấy phép sản xuất, kinh doanh theo thẩm quyền; thanh tra và xử lý vi phạm trên địa bàn.
- Cơ quan quản lý chất lượng chuyên ngành: Thực hiện kiểm tra chất lượng thực tế trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng; giải quyết tranh chấp; kiểm nghiệm và cấp giấy chứng nhận chất lượng. Cơ quan này có quyền cử người đến cơ sở để lấy mẫu, thu thập tài liệu. Việc lấy mẫu kiểm tra có giá trị pháp lý ngay cả khi vắng mặt chủ cơ sở (phải lập biên bản và để lại mẫu niêm phong).
- Giải quyết khiếu nại: Khi có khiếu nại về kết quả kiểm tra, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp sẽ giải quyết. Nếu người khiếu nại không đồng ý, có thể đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Bộ Thủy sản xem xét giải quyết. Kết luận của Bộ quản lý ngành là kết luận cuối cùng.
Quy định về tài chính, xử lý vi phạm và khen thưởng
Nghị định thiết lập các chế tài và nghĩa vụ tài chính nghiêm minh:
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải nộp lệ phí và chi phí cho việc kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi.
- Sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng sẽ bị đình chỉ xuất xưởng hoặc tiêu thụ. Sản phẩm không bảo đảm an toàn cho vật nuôi sẽ bị thu hồi và thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quản lý, nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh sẽ được khen thưởng.
- Người có hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này, tùy theo mức độ thiệt hại, sẽ bị xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Cán bộ, cơ quan quản lý nhà nước lạm quyền, xử phạt sai thẩm quyền hoặc vi phạm quy trình kiểm tra chất lượng sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời phải bồi thường nếu gây thiệt hại vật chất.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 15-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành năm 1996. Tất cả các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Thủy sản phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 15-CP | Hà Nội, ngày 19 tháng 3 năm 1996 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 15-CP NGÀY 19 THÁNG 3 NĂM 1996 VỀ VIỆC QUẢN LÝ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về thức ăn chăn nuôi;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1.- Trong Nghị định này những thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Vật nuôi gồm các loại gia súc, gia cầm, ong, tằm, thuỷ sản.
2. Thức ăn chăn nuôi là sản phẩm đã qua chế biến công nghiệp có nguồn gốc thực vật, động vật, vi sinh vật, hoá chất, khoáng chất cung cấp cho vật nuôi các chất dinh dưỡng để bảo đảm cho hoạt động sống, sinh trưởng, phát triển và sinh sản.
3. Nguyên liệu thức ăn, hay thức ăn đơn là các loại sản phẩm dùng để chế biến thành thức ăn chăn nuôi.
4. Thức ăn bổ sung là loại vật chất cho thêm vào khẩu phần ăn để cân đối thêm các chất cần thiết cho cơ thể vật nuôi.
5. Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp nhiều thức ăn đơn được phối chế theo công thức, bảo đảm có đủ các chất dinh dưỡng duy trì được đời sống và sức sản xuất của vật nuôi không cần cho thêm loại thức ăn nào khác ngoài nước uống.
6. Thức ăn giàu đạm là thức ăn có hàm lượng protein thô trên 35% tính theo trọng lượng vật chất khô.
7. Thức ăn đậm đặc là thức ăn giàu đạm có hàm lượng cao về protein, khoáng, vitamin, axít amin và kháng sinh.
8. Premix là hỗn hợp chất dinh dưỡng cùng với chất mang (chất đệm).
9. Khẩu phần hàng ngày là lượng thức ăn cần thiết đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trong một ngày đêm cho một vật nuôi theo từng giai đoạn để duy trì, phát triển đảm bảo đạt năng suất nhất định.
10. Thức ăn hàng hoá là thức ăn được lưu thông, tiêu thụ trên thị trường.
Điều 3.- Nhà nước đầu tư vốn ngân sách vào việc:
1. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước về kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi;
2. Đào tạo cán bộ chuyên ngành về thức ăn chăn nuôi làm nhiệm vụ kiểm nghiệm đánh giá chất lượng thức ăn, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng thức ăn cho vật nuôi.
2. Có điều kiện hoặc phương tiện kiểm tra chất lượng nguyên liệu và sản phẩm trước khi xuất xưởng.
3. Có nhân viên kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công nghệ sản xuất và kiểm nghiệm chất lượng thức ăn chăn nuôi.
Điều 8.- Thức ăn xuất xưởng phải qua kiểm nghiệm, ghi kết quả kiểm nghiệm và lưu mẫu để theo dõi.
Điều 12.- Cấm sản xuất, kinh doanh các loại thức ăn chăn nuôi sau đây:
1. Thức ăn kém phẩm chất hoặc quá hạn;
2. Thức ăn không đăng ký hoặc đã bị đình chỉ, thu hồi đăng ký;
3. Thức ăn đựng trong bao bì không đúng quy cách, không có nhãn hiệu;
4. Thức ăn chăn nuôi có trong danh mục không được phép sản xuất, kinh doanh do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định đối với thức ăn chăn nuôi thuộc ngành nông nghiệp; Bộ trưởng Bộ thuỷ sản quy định thức ăn chăn nuôi thuộc ngành thuỷ sản;
5. Thức ăn chăn nuôi có hoạt tính hoócmôn hoặc kháng hoócmôn, hoặc các độc tố và các chất có hại trên mức quy định.
1. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách khuyến khích sản xuất, nâng cao chất lượng thức ăn chăn nuôi;
2. Quản lý nhà nước về sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi;
3. Xây dựng tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn chăn nuôi để cơ quan có thẩm quyền ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam;
4. Kiểm tra, thanh tra chất lượng thức ăn chăn nuôi;
5. Hàng năm công bố danh mục thức ăn và nguyên liệu thức ăn không được phép sản xuất, kinh doanh;
6. Chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư chương trình Chính phủ quy hoạch, kế hoạch sản xuất, chế biến thức ăn cho các động vật nuôi. Ban hành các văn bản hướng dẫn các ngành, các địa phương và các cơ sở về quản lý thức ăn chăn nuôi.
1. Tổ chức quản lý thức ăn chăn nuôi trong phạm vi địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với thức ăn chăn nuôi ngành nông nghiệp, của Bộ Thuỷ sản đối với thức ăn chăn nuôi ngành thuỷ sản;
2. Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện việc quản lý Nhà nước về thức ăn chăn nuôi tại địa phương;
3. Quyết định việc xét cấp hoặc thu hồi giấy phép sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi tại địa phương trong phạm vi thẩm quyền của mình;
4. Kiểm tra và xử lý các vi phạm về quản lý thức ăn chăn nuôi ở địa phương.
Điều 23.- Cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi có nhiệm vụ:
1. Kiểm tra chất lượng thức ăn trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong chăn nuôi;
2. Giải quyết các tranh chấp về chất lượng thức ăn chăn nuôi;
3. Kiểm nghiệm chất lượng thức ăn chăn nuôi, cấp giấy chứng nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi.
Việc lấy mẫu kiểm tra chất lượng thức ăn có giá trị pháp lý kể cả khi vắng mặt chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Người lấy mẫu phải lập biên bản lấy mẫu và để lại một mẫu ở nơi lấy mẫu (có niêm phong).
Người có hành vi vi phạm các quy định trong Nghị định này, tuỳ theo mức độ gây thiệt hại cho Nhà nước và cho tổ chức, cá nhân sẽ bị xử phạt và bồi thường vật chất theo quy định của pháp luật.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản theo chức năng và quyền hạn của mình phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn và đôn đốc, kiểm tra thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 15-CP năm 1996 về việc quản lý thức ăn chăn nuôi
- Số hiệu: 15-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 19/03/1996
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 13
- Ngày hiệu lực: 19/03/1996
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
