Nghị định 12/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định về việc sinh con theo phương pháp khoa học, bao gồm các quy định về thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm; việc cho và nhận tinh trùng, noãn, phôi; quản lý cơ sở lưu giữ tinh trùng, phôi; và việc xác định cha, mẹ cho trẻ được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân có nhu cầu sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Đồng thời, văn bản cũng điều chỉnh hoạt động của người cho, nhận, gửi tinh trùng, noãn, phôi; các cơ sở lưu giữ tinh trùng, phôi; và các cơ sở y tế được Bộ Y tế cho phép thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản này.
Các nội dung cốt lõi của Nghị định:
1. Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành.
- Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bao gồm việc cho và nhận tinh trùng, noãn, phôi phải được tiến hành trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện.
- Thông tin về việc cho và nhận tinh trùng, phôi phải được giữ bí mật tuyệt đối.
- Đối với người nước ngoài: Chỉ được áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nếu được cơ sở y tế Việt Nam khám, xác định vô sinh và xác định tinh trùng của người chồng, noãn của người vợ bảo đảm chất lượng để thụ thai. Nghị định nghiêm cấm việc cho, nhận noãn, tinh trùng hoặc phôi đối với người nước ngoài.
2. Các hành vi bị nghiêm cấm
- Nghiêm cấm tuyệt đối hành vi mang thai hộ.
- Nghiêm cấm hành vi sinh sản vô tính.
3. Điều kiện đối với người cho và nhận tinh trùng, noãn, phôi
- Đối với người cho tinh trùng, cho noãn: Phải từ đủ 20 tuổi đến 55 tuổi (đối với người cho tinh trùng) và từ đủ 18 tuổi đến 35 tuổi (đối với người cho noãn). Người cho phải có đủ sức khỏe, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hoặc các bệnh di truyền khác. Việc cho phải hoàn toàn tự nguyện và người cho không được tìm hiểu thông tin về người nhận.
- Đối với người nhận tinh trùng, noãn, phôi: Phải từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi; có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ; không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hoặc di truyền. Người nhận không được tìm hiểu thông tin về người cho.
- Giới hạn sử dụng: Tinh trùng hoặc noãn của một người cho chỉ được sử dụng cho duy nhất một người nhận để bảo đảm an toàn và tránh các hệ lụy sinh học. Phôi của người cho cũng chỉ được sử dụng cho một người nhận trong trường hợp cặp vợ chồng vô sinh do cả vợ và chồng.
4. Trách nhiệm của cán bộ y tế và cơ sở thực hiện
- Cán bộ y tế có trách nhiệm xem xét tâm lý, tư vấn đầy đủ các rủi ro, kiểm tra sức khỏe, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và giữ bí mật tuyệt đối thông tin cá nhân của các bên liên quan.
- Xử lý phôi dư: Các cặp vợ chồng sau khi có con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, nếu không có nhu cầu sử dụng số phôi còn dư thì có thể tặng lại cho cơ sở y tế thông qua hợp đồng tặng cho để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho người khác.
- Thẩm quyền công nhận cơ sở y tế: Chỉ các cơ sở được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế công nhận mới được thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Bộ Y tế thẩm định cơ sở thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm và thụ tinh nhân tạo thuộc tuyến trung ương/bộ ngành; Sở Y tế thẩm định cơ sở thực hiện thụ tinh nhân tạo thuộc địa phương quản lý.
5. Thủ tục, kinh phí và hoạt động của Hội đồng chuyên môn
- Hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản gửi về cơ sở y tế gồm: Đơn đề nghị và hồ sơ khám xác định vô sinh của cặp vợ chồng. Cơ sở y tế phải tổ chức hội chẩn thông qua Hội đồng chuyên môn để phê duyệt; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do.
- Kinh phí thực hiện: Do sự thỏa thuận giữa cặp vợ chồng vô sinh với cơ sở y tế trên nguyên tắc bảo đảm đủ chi phí theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Trường hợp đặc biệt khó khăn có thể được xem xét miễn, giảm kinh phí từ nguồn thu viện phí hoặc tài trợ nhân đạo.
- Hội đồng chuyên môn về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Được thành lập ở Bộ Y tế và tại các cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật để tư vấn về chuyên môn, đạo đức y sinh học và các vấn đề liên quan.
6. Quy định về lưu giữ tinh trùng, phôi
- Cơ sở lưu giữ tinh trùng, phôi phải đạt các điều kiện tiêu chuẩn do Bộ Y tế quy định.
- Việc gửi tinh trùng được thực hiện cho người chồng trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh hoặc người có nguyện vọng lưu giữ cá nhân (phải trả chi phí lưu giữ).
- Trường hợp người gửi tinh trùng bị chết, cơ sở lưu giữ bắt buộc phải hủy số tinh trùng của người đó.
- Nếu người gửi tinh trùng, phôi không còn nhu cầu sử dụng và đồng ý hiến tặng, cơ sở y tế được quyền sử dụng để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho người khác sau khi đã mã hóa thông tin người cho.
7. Xác định quan hệ cha, mẹ, con và quyền thừa kế
- Xác định cha mẹ hợp pháp: Trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân. Những người này được pháp luật xác định là cha, mẹ đối với đứa trẻ.
- Quyền thừa kế và nuôi dưỡng: Con được sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn hoặc cho phôi.
8. Khen thưởng, xử lý vi phạm và điều khoản thi hành
- Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc sẽ được khen thưởng theo quy định.
- Mọi hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này, tùy theo mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi thường thiệt hại nếu gây ra tổn thất.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 12/2003/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 12/2003/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 12 tháng 2 năm 2003 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 12/2003/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 02 NĂM 2003 VỀ SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989;
Căn cứ Điều 63 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 3. Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm.
2. Thụ tinh nhân tạo là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi.
3. Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi.
4. Cặp vợ chồng vô sinh là cặp vợ chồng sống gần nhau liên tục, không áp dụng biện pháp tránh thai nào mà không có thai sau 01 năm.
5. Noãn là tế bào trứng.
6. Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng.
Điều 4. Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản:
1. Các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
2. Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải theo đúng quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành.
3. Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; cho noãn, nhận noãn; cho tinh trùng, nhận tinh trùng; cho phôi, nhận phôi phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện.
4. Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc bí mật.
2. Không thực hiện việc cho, nhận noãn; cho, nhận tinh trùng; cho, nhận phôi đối với người nước ngoài.
Điều 6. Nghiêm cấm các hành vi sau:
1. Mang thai hộ.
2. Sinh sản vô tính.
QUY ĐỊNH VỀ CHO VÀ NHẬN TINH TRÙNG, CHO VÀ NHẬN NOÃN, CHO VÀ NHẬN PHÔI
Điều 7. Người cho tinh trùng, cho noãn phải bảo đảm các điều kiện sau:
1. Tuổi:
a) Từ đủ 20 tuổi đến 55 tuổi đối với người cho tinh trùng.
b) Từ đủ 18 tuổi đến 35 tuổi đối với người cho noãn.
2. Có đủ sức khỏe, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác.
3. Tự nguyện cho.
4. Không tìm hiểu về tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận.
Điều 8. Người nhận tinh trùng, người nhận noãn, người nhận phôi phải bảo đảm các điều kiện sau:
1. Từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi.
2. Có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác.
3. Không tìm hiểu về tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho.
2. Noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người. Người nhận noãn phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ có nhu cầu sinh con nhưng không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai.
3. Phôi của người cho có thể được sử dụng cho một người. Người nhận phôi phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng.
Điều 10. Cán bộ y tế có trách nhiệm:
1. Xem xét trạng thái tâm lý của người cho và người nhận tinh trùng, noãn.
2. Tư vấn đầy đủ các rủi ro có thể xẩy ra trong quá trình lấy tinh trùng, noãn.
3. Kiểm tra sức khỏe và làm đầy đủ các xét nghiệm đối với người cho và người nhận tinh trùng, người cho noãn và người nhận noãn, người nhận phôi.
4. Ghi nhận đầy đủ các thông số về chất lượng tinh trùng, chất lượng noãn của người cho.
5. Thực hiện đúng quy trình kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.
6. Giữ bí mật các thông tin về tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho, người nhận tinh trùng, phôi.
2. Cơ sở y tế chỉ được phép sử dụng phôi để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Hội đồng chuyên môn về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của cơ sở y tế có trách nhiệm tư vấn cho Giám đốc cơ sở y tế trong việc cho phép sử dụng phôi theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
1. Bộ Y tế thẩm định và công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.
2. Bộ Y tế thẩm định và công nhận cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y tế hoặc trực thuộc các bộ, ngành khác đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo.
3. Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thẩm định với sự tham gia của Bệnh viện phụ sản khu vực hoặc trung ương và công nhận cơ sở y tế thuộc quyền quản lý của địa phương đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo.
a) Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
b) Hồ sơ khám xác định vô sinh của cặp vợ, chồng đứng tên trong đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
2. Khi nhận đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ sở y tế phải tổ chức hội chẩn, thông qua Hội đồng chuyên môn của cơ sở y tế, trình Giám đốc cơ sở y tế hoặc người được Giám đốc ủy quyền phê duyệt việc chỉ định áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì cơ sở y tế phải trả lời đương sự bằng văn bản, đồng thời nêu rõ lý do không thực hiện được.
2. Trường hợp người thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đặc biệt khó khăn, cán bộ y tế có thể đề nghị Giám đốc cơ sở y tế thông qua Hội đồng chuyên môn về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản xem xét việc miễn, giảm kinh phí thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
3. Việc miễn, giảm kinh phí thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được trích từ tiền thu một phần viện phí và từ các nguồn tài trợ nhân đạo khác (nếu có).
2. Hội đồng chuyên môn về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Bộ Y tế có chức năng tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Y tế về các vấn đề chuyên môn kỹ thuật, về đạo đức y sinh học và các vấn đề khác có liên quan đến kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong phạm vi cả nước.
3. Hội đồng chuyên môn về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của cơ sở y tế có chức năng tư vấn cho Giám đốc cơ sở y tế về các vấn đề chuyên môn kỹ thuật, về đạo đức y sinh học, về việc miễn, giảm kinh phí và các vấn đề khác liên quan đến kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong phạm vi cơ sở y tế đó.
4. Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng chuyên môn về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
CƠ SỞ LƯU GIỮ TINH TRÙNG, LƯU GIỮ PHÔI
2. Tinh trùng, phôi được lưu giữ trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
3. Sau khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thành công, nếu người gửi tinh trùng, gửi phôi không còn nhu cầu sử dụng tinh trùng, phôi và cho cơ sở y tế thì cơ sở y tế được quyền sử dụng tinh trùng, phôi đó để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho người khác. Hội đồng chuyên môn về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của cơ sở y tế có trách nhiệm tư vấn cho Giám đốc cơ sở y tế trong việc sử dụng phôi của người cho theo quy định tại Điều 8, và
1. Việc gửi tinh trùng được thực hiện trong các trường hợp sau:
a) Người chồng trong những cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh.
b) Người có nguyện vọng muốn lưu giữ cá nhân.
2. Người gửi tinh trùng phải trả chi phí lưu giữ, bảo quản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người gửi tinh trùng bị chết, cơ sở lưu giữ tinh trùng phải hủy số tinh trùng của người đó.
3. Người gửi tinh trùng, gửi phôi nếu sau đó muốn cho tinh trùng thì cơ sở lưu giữ phải sử dụng biện pháp mã hóa các thông tin về người cho.
Điều 19. Cơ sở lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi phải đạt các điều kiện theo quy định của Bộ Y tế.
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON SINH RA BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN
2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Điều 24. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo.
Điều 25. Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Nghị định 10/2015/NĐ-CP Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- 2Thông tư 57/2015/TT-BYT hướng dẫn Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 1Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989
- 2Luật Hôn nhân và Gia đình 2000
- 3Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 4Thông tư 07/2003/TT-BYT hướng dẫn thi hành Nghị định 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học do Bộ Y tế ban hành
- 5Thông tư 12/2012/TT-BYT về Quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và trong ống nghiệm do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 6Thông tư 57/2015/TT-BYT hướng dẫn Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
Nghị định 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học
- Số hiệu: 12/2003/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 12/02/2003
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 25/03/2003
- Ngày hết hiệu lực: 15/03/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
