Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021 được ban hành nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, đồng thời nâng cao vai trò của lực lượng Công an cấp xã và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến thẩm quyền tiếp nhận, xác minh sơ bộ nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã; bổ sung căn cứ tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ truy tố vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh; và sửa đổi quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Đối tượng áp dụng của Luật bao gồm các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Nội dung cốt lõi của Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021
1. Tăng cường thẩm quyền và trách nhiệm của Công an cấp xã trong tiếp nhận, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm
Nhằm phát huy vai trò của lực lượng Công an xã, phường, thị trấn và Đồn Công an trong công tác bảo đảm an ninh trật tự tại cơ sở, Luật đã sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 44 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự với các nội dung cụ thể:
- Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
- Trong trường hợp phát hiện, bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã, lực lượng này có trách nhiệm thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; đồng thời giải ngay người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Bổ sung căn cứ tạm đình chỉ trong các giai đoạn tố tụng do lý do bất khả kháng vì thiên tai, dịch bệnh
Để giải quyết các trường hợp đặc biệt không thể tiến hành các hoạt động tố tụng do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, Luật bổ sung các quy định về tạm đình chỉ như sau:
- Giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm: Bổ sung điểm c vào sau điểm b khoản 1 Điều 148. Cho phép tạm đình chỉ việc giải quyết khi không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh.
- Giai đoạn điều tra: Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 229. Cho phép tạm đình chỉ điều tra khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra.
- Giai đoạn truy tố: Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 247. Cho phép tạm đình chỉ vụ án khi không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết định việc truy tố vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố.
- Trách nhiệm hướng dẫn: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan chịu trách nhiệm quy định chi tiết các nội dung này.
3. Sửa đổi quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 155 và khoản 8 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại:
- Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
- Nếu bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố đối với các tội phạm thuộc các điều khoản nêu trên thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự.
- Sự thay đổi này đã loại bỏ quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu (khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự), nhằm đáp ứng các cam kết quốc tế của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Hiệu lực thi hành
Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Luật số: 02/2021/QH15 | Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2021 |
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Sửa đổi, bổ sung
“3. Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.”.
2. Bổ sung
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.”.
3. Sửa đổi, bổ sung
“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”.
4. Sửa đổi, bổ sung
“8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.”.
5. Bổ sung
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.”.
6. Bổ sung
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.”.
1. Sửa đổi, bổ sung
“Điều 44. Trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an
1. Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện, bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.”.
2. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
- 1Công văn 5024/VKSTC-V14 năm 2018 về giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành kiểm sát nhân dân do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2Công văn 5887/VKSTC-V14 năm 2019 về giải đáp khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thi hành án hình sự do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 3Công văn 5442/VKSTC-V14 năm 2020 về giải đáp khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thi hành án dân sự do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 1Hiến pháp 2013
- 2Bộ luật hình sự 2015
- 3Công văn 5024/VKSTC-V14 năm 2018 về giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành kiểm sát nhân dân do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 4Công văn 5887/VKSTC-V14 năm 2019 về giải đáp khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thi hành án hình sự do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 5Công văn 5442/VKSTC-V14 năm 2020 về giải đáp khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thi hành án dân sự do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 6Thông tư liên tịch 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC hướng dẫn áp dụng căn cứ tạm đình chỉ vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh theo Điểm c Khoản 1 Điều 148, Điểm d Khoản 1 Điều 229 và Điểm d Khoản 1 Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021
- Số hiệu: 02/2021/QH15
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 12/11/2021
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Vương Đình Huệ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 1029 đến số 1030
- Ngày hiệu lực: 01/12/2021
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
